Hàn Mặc Tử và bài thơ "Trăng vàng trăng ngọc"
Những Nhà Bác Học Nổi Tiếng Nhất Trong Lịch Sử Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:53' 09-03-2024
Dung lượng: 13.5 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:53' 09-03-2024
Dung lượng: 13.5 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
NHÓM TRÍ THỨC VIỆT
B iên soan
Đấtnử«3c-Con ngơòr
NHỮNG
Việt Nam
Những nhà bác học nối tiếng
ừvng ÍỊch sử Việt Nđm
T ủ SÁCH 'VIỆT NAM ĐẢT NƯỚC, CON NGUỬI'
NHỮNG NHÀ BÁC HỌC NỔI TIẾNG
TRONG LỊCH Sử VIỆT NAM
NHÓM TRÍ THÚC VIỆT
(Tuyển chọn)
NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI
Lòi nói đ ầ u
E>ây là một cuốn trong bộ sách Việt Nam ■ Đất
nước con người gồm nhiều cuốn về các chủ đề khác
nhau. Trong cuốn sách này tinh chọn 18 nhà bác học
xuất sắc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong lịch sử từ cổ
chí kim. Những gương mặt các nhà bác học ưu tú, đạt
diện cho tài năng và đạo đức của dân tộc ta, những
tấm gương về sự uyên bác, được thừa nhận là có sức
ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của bộ
môn khoa học mà họ đeo đuổi và ở họ, dù trong hoàn
cảnh nào của xá hội cũng ngời sáng vẻ đẹp tám hồn và
trí tuệ.
Chúng tót cố gắng tránh sự trùng lắp với các danh
nhân đã được giới thiệu trước đây, tuy vậy có một vài
trường hỢp bất khả kháng nếu không nêu tên như một
nhà bác học lỗi lạc, ví dụ Trạng Lường Lương Thế Vinh
hay Lê Quý Đôn, tuy nhiên, ở đây chúng tôi tiếp cận họ
từ góc độ nhà bác học với những thành công của họ
trong việc xây dựng nên cơ sở của một ngành khoa học.
Tất nhiên còn nhiều người khác nữa cũng có công
lớn vớt nền khoa học việt Nam, nhưng vì khuôn khổ
sách có hạn, chúng tôl chỉ chọn những người, theo
đánh glá chủ quan của mình, xứng đáng là đạt diện
tiêu biểu cho gtớl khoa học của nước nhà.
Xin trán trọng giới thiệu cuốn “Những nhà bác học
nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam” vớt các độc giả.
NHÓM TUYỂN CHỌN
Những nhà bác bọc nối tiếng trong lịch sử Việt Nam 1
ĐẠI DANH Y TUỆ TĨNH
Tiiệ Tĩnh chính tên là Nạiyền Bá Tĩnh, biệt hiệu là
Hồng Ngliĩa, pháp hiệu (theo tên gọi của nhà chùa) là
Tuệ Tĩnh. Ông sinh ra ở làng Nghĩa Phú (tục gọi là làng
Xưa), thuộc tổng Văn Thai, huyện cẩm Giàng (gần Kẻ
Sặt), phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương - nay là thôn
Nghĩa Phú, xã cẩm Vũ, huyện cẩm Giàng, tỉnh Hải
Dương. Thôn này ở cách ga Cao Xá trên đường sắt Hà
Nội - Hải Phòng 1,5 km và cách tỉnh lỵ Hải Dương hơn
10 km.
Vì sinh ở làng Nghĩa Phú, phủ Thượng Hồng, nên
Tuệ Tĩnh đặt bỉệt hiệu là Hồng Nghĩa. Vì thế mà sau này
ông có tác phẩm “Hồng Nghĩa giác tư y thư”, và cuốn
“Nam Dược Thần Hiệu”, là hai tác phẩm quý giá còn để
lại cho chúng ta đến hôm nay.
về năm sinh của Tuệ Tĩnh cho đến nay vẫn còn
nhiều ý kiến khác nhau, về thanh danh của Tuệ Tĩnh,
các tài liệu cũng chưa thống nhất. Tương truyền, Tuệ
Tĩnh là một nhà sư tliông minh lỗi lạc, tliỉ đậu Đệ nhị
giáp tiến sĩ, tức Hoàng giáp, và lại giỏi thuốc trị bệnh
nên bị bắt đi cống cho nhà Minh, ớ Trung Quốc, Tuệ
Tĩnh đã chữa cho Tống Vương Phi (vỢ vua Minh) khỏi
bệnh sản hậu nên điíỢc phong là “Dại Y Thiền Sư”. Hiện
nay ở các đền thờ ông, có các câu đối ngụ ý về các sự
tích đó. Thí dụ ở đền bia làng Văn Thai có câu:
Hoàng giáp phương đanh đẳng Bắc địa,
Thánh sư diệu dưỢc trấn Nam Bang.
8 Tú sách 'Việl Nam ■dất nước, con ngưài'
ĐưỢc tạm dịch như sau;
Thỉ đậu Hoàng giáp tiếng lừng Trung Quốc
Chữa bệnh thần diệu tài quán Nam Bang.
Nhưng theo cuốn; “Hải Dương phong vật chí" (A.882
Fo 76b của Thư viện Khoa học) chép: “Tuệ Tĩnh tiên
sinh, thầy thuốc danh tiếng ở xâ Nghĩa Phii, huyện cẩm
Giàng, chuyên dùng thuốc nam chiìa bệnh rất công hiệu,
có chép các tập dược tính chỉ nam và 13 phương gia
giảm truyền lại đời sau”.
Sử sách còn chép lại rằng: Lúc Tuệ Tĩnh lên sáu tuổi
thì cha mẹ đều mất, vì mồ côi nên ông điíỢc một hoà
thượng chùa Hải Triều ở Yên Trang (sau này gọi là chùa
Nghiêm Quang, tức chùa Giám, thuộc xã Tân Sơn, huyện
Cẩm Bình) đem về nuôi dạy. Năm lên 10 tuổi, ông đã đưỢc
sxí cụ chùa Giao Thủy, ở Sơn Nam (Nam Định) đưa về cho
học với các nhà S IÍ trong chìia Dĩmg Nhuệ, ở chùa này, ông
có pháp danh là Tiểu Huệ, biệt danh là Tuệ Tình, ông
được nhà chùa cho học chữ và học ngliề tliuốc để giúp việc
chữa bệnh cho dân nglièo trong xã, huyện. Năm 22 tuổi,
Tuệ Tĩnh đi tlii Hương và đỗ nhất bảng, nhưng ông không
ra làm quan mà vẫn ở lại chùa tiếp tục việc chữa bệnh, lấy
pháp hiệu Tuệ Tĩnh cũng rù' đó. Năm 30 tuổi, Tuệ Tĩnh trở
về chùa Yên Trang làm sư trụ trì, tu sửa lại chùa và nhiều
chùa khác ừong huyện. Năm 45 tuổi, Tuệ Tĩnh đi thi Đ'mh
và đỗ Hoàng giáp. Năm 55 tuổi, ông bị bắt đi sứ sang
Trung Quốc, đưỢc Minh triều giữ lại làm việc ở Viện Thái
y, rồi mất tại tỉnh Giang Nam (kliông rô tại huyện, xã nào
ở tính này?).
về sự ngliỉệp y học của Tuệ Tĩnh, ông đã soạn các
sách “Dược tính chỉ nam” và “Thập tam phương gia
Những nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam 9
giảm”... những bản nguyên tác của ông nay không còn
trọn vẹn, do vào cuối thế kỷ xrv, giặc ngoại xâm sang
xâm chiếm nước ta, chúng đâ phá hủy nhiều thư tịch
lớn. Những bản hiện còn do người đời sau ghi chép qua
truyền khẩu dân gian như: “Nam Dược Thần Hiệu” do
Hoà diượng Bản Lai chùa Hồng Phúc (ở Hòe Nhai, Hàng
Than, Hà Nội) biên tập. bổ sung vào năm Tân Tỵ cách
đây đúng 240 năm (1761-2001).
“Nam dược chính bản", do triều đình Lê Dụ Tông
biên tập (sau đổi tên sách là “Hồng Nglũa giác tư y tíaư”)
và điíỢc in vào năm Ất Dậu (1717) gồm; “Quyển thượng
và quyển hạ”.
Trong cuốn “Hồng Nghĩa giác tií y thư”, Nhà xuất
bản Y học, Hà Nội - 1978, lại chép: sách “Hồng Nghĩa
giác tư y thư” do Y viện triều Lê Dụ Tông xuất bản năm
Quý Mão (1723).
Quyển Thượng: “Nam DưỢc Quốc Ngữ Phú” gồm 590
tên vỊ tliuốc nam và “Trực giải chỉ nam dược tính phú”
gồm đặc tính cỉia 220 vị thuốc nam. Quyển Hạ: “Y luận”,
là sách viết về các lý luận từ âm dương ngũ hành sinh
hóa vào con ngvĩời trong tiết khí bốn mùa, sự ảnh hiíởng
vào bệnh tật, cách điều trị lâm sàng. Và “Thập tam
phương gia giảm” phụ “Bổ âm đơn và dược tính phú”
bằng chữ Hán. Là sách hướng dẫn gia, giảm khi dùng
thuốc chữa bệnh.
Cuốn “Nam Dược Thần Hiệu” của Tuệ Tĩnh, được
Nhà xuất bản Y học, in lần thứ hai vào năm 1972. Bộ
này gồm 11 quyển: Quyển đầu nói về dược tính của 119
vị thuốc nam. Mười quyển sau, mỗi quyển nói về một
khoa trị bệnh...
10 Tủ sách "Việt Nam - đất nuớc, con nguôi"
Còn cuốn: “Hồng Nghĩa giác tư y Uiư” của ông, được
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, in năm 1978 gồm chín
phần lớn (chưa kể lời giới thiệu của nhà xuất bản và lời
tựa của các quân y Viện triều Lê Dụ Tông, dày 319
trang), cả hai bộ sách này của Tuệ Tĩnh đều có ảnh
hưởng rất sâu rộng trong y gia Việt Nam, mà cho đến
hôm nay, vấn đề lý luận và thực tiễn vẫn luôn được thừa
kế phát triển và phổ biến. Nhất là cuốn “Nam DưỢc
Thần Hiệu” của ông, nhiều thầy thuốc từ trước đến giờ,
vẫn theo phương pháp trị liệu của Tuệ Tĩnh để chữa
bệnh rất hiệu quả, mà Hải Thượng Lãn ông - Lê Hữu
Trác - là một bậc Đại y tôn. cũng chịu ảnh hưởng của
Tuệ Tĩnh trong công việc biên soạn quyển "Lĩnh Nam
Bản Thảo"...
Có thổ nói: Tuệ Tĩnh là một danh y Việt Nam đã mở
đường cho sự nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền
móng cho Y học dân tộc của niíớc nhà. ông đã tổng hỢp
và để lại những bài thuốc kinh nghiệm quý báu cho một
số khá nhiều bệnh tật. Đó là một tài liệu có giá trị lớn
cho sự thừa kế và phát huy vốn cũ y dược của nhân dân
ta, thật là một cống hiến rất lớn của ông. Và cũng chính
do gây dựng được phong trào trồng cây tliuốc trong gia
đình để tự chữa bệnh, nhờ vậy mà năm 1533, với cây
thuốc sẵn có mà dân chúng thoát khỏi bệnh sốt rét
hoành hành, hay dịch tả tại Thái Nguyên năm Giáp Tuất
(1574)...
[Tuệ Tĩnh còn tập hỢp những bài thuốc chữa bệnh
cho gia súc,, ,CÓ thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho
ngành tliú y dân tộc.
Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh
Những nhả bác học nổi tiêng trong lịch sử Việt Nam
11
thuốc Việt Nani. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã
Cẩm Văn, cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung,
nay là cliùa Giám, xã cẩm Sơn. huvện cầm Giàng, có
tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ óng ở đền Bia viết, dịch
nghĩa như sau:
Aíở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái
lỉnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa cẩm
Giang.
Nguyễn Duy Cách
(•) Đoạn troníi ngoặc [...] do NBS thêm vào.
12 Tusách 'Việt Nam - đất nước, con nguời'
VŨ HỮU - NHÀ TOÁN HỌC ĐẦ u
CỦA VIỆT NAM
t iê n
Vũ Hữu (1437-1530) là một nhà toán học người Việt,
và cĩing là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông,
Lê Hiến Tông, ông còn được coi là nhà toán học đầu
tiên của Việt Nam.
Ông ngiíời làng Mộ Trạch, tổng Thì Cỉí, huyện
Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là
làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh
Hải Dương. Ông là người đỗ tiến sĩ đầu tiên của làng Mộ
Trạch dưới triều Lê Sơ, là con thứ ba của cụ Vũ Bá
Kliiêm, thuộc đời thứ 5 họ Vũ làng Mộ Trạch. Theo sách
gia phả họ Vũ ở làng Mộ Trạch glii lại thì Vũ Hữu sinh
năm 1443 (một số tài liệu ghi Vũ Hữu sinh năm 1437).
Ông có em ruột là Vũ Phong, một Đô lực sĩ, làm võ quan
đến chức Cẩm y vệ úy ty chỉ huy sứ thời vua Lê Thánh
Tông, dân gian tôn là Trạng Vật. Ngoài ra, dòng tộc ông
về sau nhiều đời đỗ đạt, Vũ Hữu là bác của Víi Đôn, cao
tổ của Vũ Lương, tăng tổ của Vũ Đình Lân, viên tổ của
Vũ Đình Thiều, Vũ Đình Ân, v.v. đều là những bậc khoa
bảng vang danh cả.
Thuở nhỏ, ông không được đi học vì nhà nghèo,
nhưng Vũ Hữu đã sớm bọc lộ trí thông minh mẫn tiệp,
tư chất tinh anh. Khi ông còn bé, dân làng Mộ Trạch
muốn sỉía S cU ig mới ngôi đình bị dột nát, các bô lão
trong làng lúng túng chẳng biết tính toán làm sao để có
Uiể hoàn thành ngôi đình. Vũ Hữu chỉ cần nhìn qua ngôi
đình, lấy que vạch lên đất tính toán, một lát đã xong.
Những nhà bác học nối tiếng trang hch sứ Việt Nam
13
Toán ứiợ làm y theo cách cậu vẽ, quả nhiên đúng khớp
cả. Mọi người ngạc nhiên, cho Vũ Hữu là thần đồng. Từ
đó họ góp tiền nuôỉ cậu ăn học.
Tài tính toán nhanh và chính xác của cậu. cùng với
lập luận khoa học sắc bén đã làm sáng tỏ những vụ việc
tranh chấp, kiện tụng giữa dân làng tưởng chừng như bế
tắc, không manh mối. Hơn thế nữa, với những phương
pháp sáng tạo vượt trước thời đại, cậu đã biết ứng dụng
các phép đo lường phức tạp, mà mãl về sau này, con
người mới tìm ra nguyên lý và phổ biến rộng rãi.
Tuy là nhà nho, nhưng Vũ Hũu lại khác người, ông
đặc biệt say mê môn toán pháp, ông ra sức vận động
đưa toán học vào việc thi cử nhưng không được nhà vua
chấp thuận.
Ông hệ thống hoá những thành tựu về hình học và
số học đương thời, viết thành quyển Lập Thành Toán
Pháp chỉ dẫn cách chia cụ thể và chính xác về cách chia
ruộng đất, xây dựng nhà cửa, thành luỹ... Các phép đo
ruộng đất được tính theo đơn vị mẫu, sào, thước (24 mét
vuông) và tấc (1/10 thước). Đây là quyển sách toán học
cổ nhất nước ta, nay không còn.
Nãm Quý Mùi (năm 1463) đời vua Lê Thánh Tông,
ông đỗ Hoàng giáp khi mới 20 tuổi, ông làm quan đến
chức ThiíỢng thư Bộ hộ. Bia khoa Quý Mùi hiện còn ở
Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội, có tên ông.
Đời vua Lê Thánh Tông, ở kinh đô Thăng Long, các
cửa Đoan Môn, Đại Hiíng, Đông Hoà của kinh Uiànli xây tít
đời Lý, bị sụt lở quá nhiều. Triều đình ngliị bàn tu sửa lại.
Vua sai Vũ Hữu trù tính nguyên vật liệu và nhàn công cần
14 Tú sách "Việt Nam - dất nuúc con nguùi'
tliiết. ông đến tìíng cửa thành, đo đạc diiều cao thấp, rộng
hẹp. lập phép tính mọi thứ cần tliiết, đôn đốc tíii công. Tn
sửa xong, số ngiivên vật liệu, nhân công mà ông trù tính
coi nluí víía đủ. Mọi người đều phục tài. Nhà vua khen tài
tính toáji của ông, tluíởng cho 100 mẫu ruộng ở tào vệ
Nam Xương, phong ông là Trạng toán.
Thế kỷ 15. dưới triều vua Lé Thánh Tông, đã đồng
thời xuất hiện hai nhà toán học lỗi lạc, đều viết sách để
lại cho đời. Tiếc thay, tác phẩm Lập Thành Toán Pháp
cỉia Vũ Hữu đến nay vần chưa tìm ra.
Tuy làm quan, nhưng Vũ Hữu luôn giữ mình trong
sạch, thanh liêm, cứng cỏi, cuộc sống gia đình cần kiệm.
Ngày ông đỗ Hoàng giáp, theo hương lĩớc cỉia làng Mộ
Trạch quv định: HỄ ai đỗ đại khoa, dân làng góp tiền
mừng con lỢn, người đỗ đạt phải khao làng một con
trâu. Nhà nghèo, Vũ Hữu buộc phải mua trâu để khao
làng mà không có tiền để mua trâu cày cho gia đình. Bài
thơ tự thuật của ông có câu:
Nhậm nhiệm chu niên quan lịch tiến
Te ngưu thường hừu, phạp ngưu canh
Nghĩa là:
Nhận nhiệm nhiều năm quan thường tiến
Trâu khao thì có. chẳng trâu cày
Vũ Hữu làm quan qua 7 đời vua triều Lê sơ: Lê
Thánh Tông (1460-1497); Lê Hiển Tông (1497-1504);
Lê Duệ Tông (1504-1505); Lê Uy Mục (1505-1510); Lê
Tiíơng Dục (1510-1516); Lê Chiêu Tông (1516-1522); Lê
Cung Hoàng (1522-1527). ông có 5 con và cháu ruột đỗ
tiến sĩ. cùng được kliắc tên ở Văn miếu Mao Điền (Hải
Những nhà bác học nối tiếng trong lịch sứ Việt Nam
15
Diíơng) và Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).
Ngoài 70 tuổi, ông cáo quan xin về hiíu, làm nhà đặt
tên là Phượng Tri am. ông được tặng phong là Thái bảo.
Năm 1527, vua Lc Cung Hoàng tin nhiệm ông làm
Nguyên lão đại thần, cử ông cùng với Phan Đình Tá
mang cờ tiết, kim sách, mũ áo thêu rồng đen, dát đai
ngọc, kiệu tía đến cổ Trai tấn phong tước viíơng cho
Mạc Đáng Dung.
Khỉ nhà Mạc thay ngôi vua nhà Lê, ông vẫn được
triều đình vời làm quan. Năm Canh Dậu (năm 1530) ông
mất, thọ 93 tuổi.
Ông được thờ tại nhà thờ Hiển Đức Đường, phần mộ
còn tại xi'í Mả Miễu (Mộ Trạch).
Cháu ông là Lê Quang Bí, một văn thần nổi tiếng đời
nhà Mạc, đã có đề tliơ vịnh rằng:
Hào kiệt do sơ tiến si khoa
Viết cần, viết thận, viết vô sa.
Chư thào diệt chí công năng trứ
Đồng Hệt hàm suy đức nghiệp gia
Đường tướng thủ văn khám Tống Cảnh
Tấn triều bác vật tiện Trương Khoa
Môn đình thanh tử tương huy áng
Dư khánh tông tri tích thiện gia.
Dịch là:
Hào kiệt nguyên trong tiến sĩ khoa - Chĩí cần, chữ
thận chẳng sai qua. Tì tào thử khắp tài năng rõ - Liêu
hào suy tôn đức nghiệp già. Điíờng tướng thủ văn so
Tống Cảnh - Tấn triều bác vật sách Trương Hoa - Môn
16 Tusách 'Việt Nam - đất nước, con nguôi'
đình rực rỡ màu xanh tía - Tích thiện cho hay bởi những
nhà.
:f=
ÍỊ:
H:
Tích trạng:
Cái cán bàng nước
Lần nọ, Vũ Hữu được bố cho theo cùng, sang thăm
ông bạn ở làng bên. Gặp nhau, hai ông ngồi trên bộ ván,
vìía hút thuốc vừa hàn huyên tâm sự, còn lũ trẻ cũng
nhanh chóng nhập cuộc, bày trò ngoài sân...
Người bạn vốn có chiếc điếu bát rất đẹp, men sứ
xanh lam, lại khảm bạc chạm trổ hình rồng mây bao
quanh, quả là độc nhất vô nhị, nổi tiếng khắp vùng.
Châm vê thuốc ở nõ. rít một hơi dài rồi phà khói ra đầy
vẻ sảng khoái, ông Khiêm nói:
Chiếc điếu bát này đẹp tuyệt, tiếc nỗi nõ điều bằng
đồng, chứ bằng bạc nốt thì hoàn hảo lắm!”
Ông bạn nglic nói, phân trần ngay;
"Đúng thế đấy! Tôi đã định nhờ thợ đúc chiếc nõ
bạc, khổ nỗi không biết phân lượng bao nhiêu để giao
cho đúng số bạc cho thợ...” Rồi như chợt nghĩ ra. ông
tiếp: “À mà này! Tôi nglie đồn thằng bé Hĩíu có tài tính
toán giỏi lắm, hay ta hỏi nó thử xem...”
Được gọi vào, Hữu lắng nghe bố bạn giải thích, rồi
cầm chiếc nõ ông rút từ điếu bát đifa cho, cậu mân mê,
ngắm nghía mãi vẩn không tìm ra cách cân đo.
“Uống chén trà cho tỉnh táo đã cháu, rồi từ tốn suy
nghĩ...”
Những nhà bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam
17
Cầm tách trà nóng, đầu óc vẫn nghĩ ngợi miên man,
Vũ Hữu vô tình làm nước trong tách sóng sánh, văng
bắn cả vào tay. Cậu giật mình nhìn lại tách trà, chợt nảy
ra phát kiến liền reo lên: “Cháu tính đưỢc rồi!!!”
Hai người bạn già hết sức ngạc nhiên, trố mắt ra
nhìn, chẳng hiểu gì cả...
Vũ Hữu đặt tách trà lên một chiếc đĩa khô, với lấy
ấm rót thêm cho đầy ắp, tưởng chừng nhií dư một giọt là
đổ ra ngoài. Đoạn cậu cầm chiếc nỏ điếu, từ từ bỏ vào
trong tách, nước tràn ngay xuống đĩa... Bỏ tách ra khỏi
đĩa rồi rót số nước tràn ở đĩa vào một cái tách khác, cậu
giơ lên nói:
“Đây ạ! Khối híỢng bạc để đúc chiếc nỏ bằng đúng
khối híỢng nước chứa trong tách này!”
Bằng con đường suy luận, sáng tạo độc đáo, cậu bé
Vũ Hiìu, ngay từ thế kỉ XV, đã tìm ra phương pháp tính
tliể tích của những vật khó đo lường, như chiếc nõ điếu
chẳng hạn, đã khiến cha ông phải trầm trồ thoảng thốt:
“Quả nhiên “Hậu sinh khả úy”... xứng danh là
“Thần đồng toán học” kì tài trong thiên hạ.”
Thiếu một viên, thừa một viên
“Sao lại thế này? Cả tháng trời rồi mà các khanh
vẫn không dự toán chính xác số gạch để sửa cổng thành
ư? Trẫm thất vọng quá đấy!” - Vua Lê Thánh Tông vỗ
Long án, vẻ không hài lòng sau khỉ đọc qua mấy tờ tấu
chương, mỗi tờ nêu một số liệu khác nhau... Các đại
thần, nhất là Thượng tíiư cho đến Lang trung bộ Công
đều cúi mặt, bối rối. Rồi chợt nhớ ra, vua phán:
“Trẫm vẫn thường nghe Khâm Hình viện Lang trung
18 Tủ sách "Việt Nam - đất nước, con người'
tài tính toán hơn người, truyền cho vào phục mệnh”.
Được lệnh, Vũ Hữu vào bái kiến, vua giao ngay việc
tính toán, sửa chữa cho ông, cấm không được dềnh
dàng, chậm trễ.
CÓ
Rời cung, Vũ Hữu dẫn theo mấy người thợ, bắt tay
vào việc ngay.
Thành Thăng Long được xây vào đời nhà Lý, trải
qua hơn bốn trăm năm, nhiều chỗ đã mục nát, hư hỏng
cả. Quan sát khắp lượt, Vũ Hữu quyết định sữa chữa
cổng Đông Hoa trước, là cổng lớn và đổ nát nhiều nhất.
Đốn tối, ông vẫn chong đèn ghi chép, cho thợ khuân xếp
gạch, vôi vữa sẵn sàng để hôm sau sửa thành.
Sáng lại, vào triều kiến, Vũ tâu:
“Thần đâ tính toán xong vật liệu sửa thành. Nhưng
nội nhật hôm nay chỉ kịp sửa một cổng, xin bệ ban hạ
lệnh khởi công!”
Vua Thánh Tông rất hài lòng với cách làm việc
nhanh nhạy đó, lập tức phê chuẩn, rồi đích thân xa giá
ra cổng thành Đông Hoa ngự khán, các quan cùng theo
hộ giá.
Vài vị đại thần thấy số vật liệu Vũ Hữu tính khác xa
tính toán của họ nên bực tức, xấu hổ, sàm tấu với vua:
“Bẩm! Chỉ làm tính trong một đêm, chắc ^ đã
đúng? E rằng làm ẩu, hỏng việc lớn!”
“Khải bẩm đúng ạ...! Hay là bắt làm Quân lệnli trạng,
nếu xây ứiừa hay thiếu vật liệu, đều phải chịu tội...”
"Thần đã tính toán kỹ, nếu thừa hay thiếu, dù chỉ
một viên gạch, xln cam chịu tội!”
Vua ưng thuận, các quan thì hí hửng lắm, chắc mẩm
Những nhả bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam
19
phen này Vĩi Hữu mắc tội rồi, dù là "thần toán” cũng
không thể chính xác đến vậy. Có kẻ xấu bụng còn lén
giấu bớt một viên gạch xếp sẵn, đủ để ám hại Vũ Hữu.
Trống đổ hồi, lệnh khởi công ban ra... Vũ Hữu kiểm
tra lại các khối gạch xếp ngay hàng, chợt trông thấy một
chồng hơi lệch đi, liền tâu:
“Bẩm! Thiếu mất một viên gạch! Ai đó đã rút bớt...
Không đúng như số gạch đã sắp sẵn đêm qua.”
Liền đó, một viên gạch khác được bổ sung đến, rồi
vua quan hồi hộp theo dõi Vũ Hữu đích thần chỉ huy
đôn đốc đám thợ xây sửa thành.
xế chiều, công việc hoàn tất, số gạch vĩía được sử
dụng hết. chỉ còn lại duy nhất... một viên gạch! Các
quan hể hả lắm, đồng tâu lên vua xin trị tội Vũ Hữu. Vua
cầm viên gạch cuối cùng trên tay, nhấc nhấc ước lượng,
đoạn bảo:
'Kể ra tính toán đitỢc vậy đã là tài giỏi tột bậc,
nhưng viên gạch thừa này lại to nặng hơn các viên kia,
cớ chi?”
Vfi Hữu bị các quan công kích, vẫn điềm nhiên, giờ
nghe vua phán hỏi, mới quỳ tâu:
“Bệ hạ quả anh niính! s ố gạch cần để sửa chữa cổng
thành Đông Hoa là vừa đủ. Riêng viên gạch này, kích cỡ
lớn hơn chỉ phù hỢp với cột thành phía Đông kia, nơi đó
tường còn tốt, duy chỉ có một viên vỡ cần thay thế thôi!"
Không aỉ chịu tin, cho là Vũ Hữu chống chế chạy tội,
đến chừng thợ leo lên phía tiíờng Đông, gỡ viên gạch nát
ra, trám viên gạch thừa vào thì vừa khít, sít sao. Lúc đó
mọi người mới tâm phục, khẩu phục. Vua ban khen:
20 Tủ sách 'Việt Nam -đất nước, con nguùi'
“Trước thiếu một viên, thừa một viên. Rốt lại vừa
đúng! Klianh quả là thần toán đại tài của nước Nam ta
đó!”
Rồi, vua trọng thưởng, giao phó cho Vũ Hiìu đảm
trách sửa chữa kỳ hết các cổng tliành còn lại, Vũ Hữu
vẫn tính toán chính xác, không thừa, không thiếu một
viên gạch!
Hiến kế trang cờ
Khỉ sang nước ta, sứ nhà Minh lại thách thức vua Lê
đấu cờ, vì chúng nghe đồn Thánh Tông tài giỏi cả bốn
môn: cầm, Kỳ, Thi, Hoạ, nên lập tâm mang theo một kỳ
thủ bậc nhất Minh quốc, cho đóng vai sứ giả, hòng thách
đấu và buộc vua tôi nước ta phải chịu thua, khuất phục.
Trước sự thách mời, Thánh Tông miễn cưỡng nhận lời
nhitng trong bụng lo lắm, vì biết không thắng nổi kỳ thủ
kia. Các quan xin tiến cử một danh thủ làng cờ nước ta
bấy giờ là Vũ Huyên, cũng ở làng Mộ Trạch huyện Đường
An với VĨI Hữu, dân gian vẫn gọi người này là “Trạng cờ”
vì tài nghệ của ông: Đã đấu là thắng!
Có Trạng Cờ rồi. nhưng làm sao mách nước cho
vua? Vì khi giao đấu, chỉ có hai đấu thủ đối diện trên
bàn cờ. Mà học hết nước cờ thì không thể kịp! Vậy là vẫn
bế tắc...
“Thần có kế sách này, hiện đang lúc nóng bức, bệ hạ
cho dựng một sàn đấu lộ thiên trong vườn Thượng uyển
lấy lý do vìía đấu cờ vỉta hóng mát thưởng hoa. Rồi cho
hai lính vác lọng đứng hầu. Vĩi Huyên sẽ cải trang làm
người cầm lọng đííng che cho bệ hạ, trên lọng soi một lỗ
nhỏ đủ để tia nắng rọi xuống bàn cờ. Tới lượt đi, hễ Vũ
Những nhà bác học nối tiẾng trong lịch sứ Việt Nam 21
Huyên điều khiển Ua nắng chiếu vào quân cờ nào, dịch
chuyển đến đâu, bệ hạ cứ theo đó mà đi qua là được!”
Mọi người cho là diệu kế, bèn tlieo đó mà làm. Quả
nhiên qua ba ván liền, tay sứ giả kỳ thủ kia đều thua
trắng. Tức tối đến phá luật, hắn xin hầu tiếp mấy ván
nữa, lại vẫn thua sạch. Giờ thì hoảng sỢ thực sự! Hắn
gập người bái dài mà tôn đức vua làm “Đệ nhất kỳ thủ”.
Thắng được sứ nhà Minh, vua Thánh Tông rất trọng đãi
công lao của Vũ Huyên, ban cho danh hiệu “Đấu kỳ
trạng nguyên”. Từ đó trong dân gian truyền tụng câu
ngạn ngữ: “Rượu Hàng Mai, cờ Mộ Trạch” để tán dương
tài đấu cờ của ông. (Nhắc đến cờ, phải nói đến người tài
ở làng Mộ Trạch.)
Riêng Vũ Hữu càng điíỢc vua và quần thần kính
trọng, nể phục tài trí phỉ thường.
ST
l i Tù sách 'Việt Nam -đất nuớc, con người'
LƯƠNG THẾ VINH - TRẠNG NGUYÊN ĐA TÀI
Trạng nguyên Lưdng Thế Vinh, tự là Cảnh Nghị,
hiệu là Thụy Hiên, sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu
(1441) trong một gia đình nông dân có học ở làng Cao
Hương, huyện Thiên Bản, nay là thôn Cao Phương, xã
Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Thời niên thiếu, Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là thần
đồng, thông minh, nhanh trí. Lớn lên, Lương Thế Vinh
càng học giỏi, học có phương pháp, kết hỢp học với lao
động, vui chơi giải trí.
Chưa đầy hai mươi tuổi, tài học của Lương Thế Vinh
đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 23 tuổi, đời vua
Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ tư (1463), Lương
Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi.
Cuộc đời 32 năm làm quan, Lương Thế Vinh đều ở
Viện Hàn lâm, trải thăng đến chức Hàn lâm Thị thư
chưởng Hàn lâm viện sự, đứng đầu Viện Hàn lâm.
Ông có biệt têũ về ngoại giao, được nhà vua tin yêu,
giao trọng ữách soạn thảo vãn từ bang giao và đón tiếp
sứ thần nước ngoài.
Nhiều bài biểu do Lương Thế Vinh soạn gửi cho vua
Minh để giải quyết mối quan hệ giữa hai nước, đều được
vua Minh chấp tliuận. Vua Minh phải khen là “nước
Nam có lắm người tài”.
Trạng nguyên Lương Thế Vinh còn dạy học ở Quốc
Tử Giám, Sùng Văn quán và Tú Lâm cục là những
trường cao cấp. thời bấy giờ đào tạo nhân tài cho đất
Những nhà bác học nổi tiếng trang lịch sứ Việt Nam 23
nước về văn chương và toán học.
Học trò ciìa ông có nhiền ngiíờỉ đỗ đạt cao như
Nguyễn Tất Đại (người làng Kha Lý, xã Thụy Quỳnh,
Thái Thụy, Thái Bình), đỗ tiến sĩ năm 1469; Lương Đắc
Bằng (làng Hội Triều, nay thuộc Hoằng Phong, Hoằng
Hóa, Thanh Hóa), đỗ Bảng nhãn năm 1499.
Lương Thế Vinh không những dạy toán học ỏ TÍI
Lâm cục, ông còn giữ chức cấp sự trung khoa công,
chuyên khảo sát việc tạo tác các công trình như cung
điện, đền đài, thành quách, đường sá, đê điều... cần đến
toán học.
Ông đã biên soạn cuốn Đại thành toán pháp để tiện
dùng, đó là cuốn sách giáo khoa toán đầu tiên ở nước ta.
Trong cuốn sách, ông đã tổng kết những kiến thức toán
tliời đó và cả những phát minh của ông.
Trong sách dạy các kiến thức về số học, phương
pháp đo lường bóng (phương pháp đồng dạng), hệ số đo
lường, cách cân, đo, đong, đếm, định vị, đơn vỊ, tiền
vải..., dạy toán đạc điền...
Điều đáng chú ý là cuốn sách soạn từ thế kỷ XV, mà
mãi đến thế kỷ XIX nó vẫn được dùng làm sách giáo
khoa để dạy toán trong các trường học.
Thời Lương Thế Vinh, các công cụ tính toán thật là
thô sơ nghèo nàn. ở Việt Nam lúc đó công cụ tính toán
chủ yếu vẫn là hai bàn tay bằng cách “bấm đốt ngón
tay”. Khi đó người ta còn dùng một SỢỈ dây với những
nút thắt làm công cụ đếm (thắt nút, cởi nút)...
Sau nhiều ngày đêm suy n ^ ĩ, Lương Thế Vinh sáng
chế ra một công cụ tính toán lợi hơn. Cuối cùng ông đã
24 Tủ sách 'Việt Nam đất nước, con nguôi'
sáng chế ra bàn hnli gẩy - chiếc bàn tính đầu tiên của Việt
Nam. Lúc đầu ông nặn những hòn bi bằng đất có khoan lỗ
ở giữa, xâu vào một cái đũi, các xâu buộc cạnh nhau thàiứi
một bàn tính ông cải tiến dần những “vièn tính” bằng đất
thành những đốt trúc ngắn, rồi những viên tính bằng gỗ
sơn màu khác nhau để dễ tính, dễ nliớ.
Lương Thế Vinh am hiểu sâu sắc về âm nhạc và hát
chèo. Ông đã cùng Thân Nhân Trung và Dỗ Nhuận soạn
hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc dùng trong quốc lễ và triều
hội. Ông nghiên cứu hàng trăm phường chèo, biên soạn
cuốn Hý phường phả lục ghi lại các khoán ước của
phường chèo, kịch bản và diễn xuất, cách đánh trống
chèo, phương pháp múa và hát.
Năm 1501, năm nãm sau khi ông mất, bạn ông là
tiến sĩ Quách Hữu Ngliiêm (người Thái Bình) đã đề tựa
và đưa in tác phẩm trên. Lịch sử Việt Nam - tập 1, xuất
bản năm 1971 đã glii nhận: “Cuốn Hý phường phả lục
của Lương Thế Vinh xuất bản năm 1501 có thể coi đó là
tác phẩm lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ
truyền. Tác giả đã tổng kết kỉnh nghiệm và nêu lên
nhĩíng nguyên tắc có tính chất lý luận về ngliệ thuật biểu
diễn, diễn viên, múa hát và đánh trống”.
về văn thơ, Lương Thế Vinh cũng có nhiều đóng góp.
Ông giữ chức Sái phu trong hội thơ Tao Đàn của vua Lê
Thánh Tông, là người chuyên phê bình, sửa chữa thơ
trong hội, nhiều lần đã ngâm hoạ với vua Lê như bài
Tướng sĩ nhớ nhà và bài Động Lục Vân.
Ông còn cùng với Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Đào
Cử soạn nhiều bài ký, văn bia ở Văn Miếu, ở chùa Diên
Hựu (Một Cột). Ông để lại hai bài phú ca ngợi cuộc sống
Nhũng nhà bác học nối tiếng trong lịch sứ Việt Nam 2 5
thanh cao, không màng danh hoa phú quý. Văn thơ của
Lương Thế Vinh, nhìn chung thể hiện sâu sắc tư tiíởng
yêu nước, thương dân, căm ghét bọn quan lại tham
nluìng, thích cuộc sống tlianh cao, gần gũi với dân quê.
Lương Thế Vinh là người trọng tliực học, thích mở
mang kinh tế. ông đã dạy dân làng Hương làm nghề tluiốc
bắc, thuốc nam chữa bệnh cứu ngiíờỉ, khuyến khích mở
nhiều chợ bíia để dân mua bán, trao đổi hcUig hóa.
Yêu nước, thương dân, ông luôn muốn cho đất nước
thanh bình, dân ấm no, triều đình và dân cìmg lo việc
nước. Với suy nghĩ nhií vậy, nên đoạn văn sách thi Đình
nổi tiếng đó, Lương Thế Vinh khuyên nhà vua ra sítc
kén chọn người hiền tài, đặt quan chức để “vì dân mà
làm việc”, khuyên nhà vua và triều đình phải “đồng tâm
nhất thể”.
Cuối đời trạng nguyên Liíơng Thế Vinh về trí sĩ tại
quê nhà. ông về hưu thực ra không phải vì ốm yếu, mà
ông muốn rảnh rỗi trở về sống yên tĩnh ở quê hương,
làm thêm việc gì có ích trước khi xuôi tay, nhắm mắt.
Nhân dân Cao Hiíơng yêu mến Lương Thế Vinh.
Nhưng yêu hơn vẫn là đám học trò đã và đang học
Lương Thế Vinh. Cứ đến mùa sen nở, ông lại một lần
ưễn học trò mình đi thi. Học trò Sơn Nam đến theo học
ông ngày càng đông và không ít người đã thành đạt.
Rút từ bài học bản thân mình, Lương Thế Vinh rèn
cho học trò một cách học tliông minh. Klii học ra học,
khi chơi ra chơi, không học ngày học đêm theo cách sôi
kinh nấu sử.
Tuổi ngày càng cao, nhưng cũng như thú vui thả
26 Tủ sách 'Việt Nam - đất nước, con nguàỉ'
diều, hàng ngày Lương Thế Vinh thường la cà quán
nước, nhất là quán cây đa cổ thii có bóng râm mát cả
một vùng rộng ở làng bên. ở nơi đây ông có thể nghe
được nhiều điều hay dở để răn dạy học trò, răn dạy
ngiíời đời và cũng để sửa mình nữa.
Ông rất yêu con trẻ, thường bày cho chúng những
trò chơi vui nhộn và bổ ích. Thấy trẻ rất thích nặn con
rối, ông đã nghĩ ra cách chơi rối nước.
Trò chơi này thật vui, thật hấp dẫn. Người các nơi
tìm đến học để phổ biến ở quê mình. Từ đó múa rối
nước trở thành một loại nghệ thuật sân khấu đặc sắc
trong nhân dân, truyền mãi đến ngày nay.
Trạng nguyên Lương Thế Vinh mất tại quê nhà ngày
26/8 năm Bính Thìn (1496), thọ 55 tuổi.
Nhà bác học Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) đã hết lời ca
ngợi Lương Thế Vinh, đánh giá ông là con ngiíời có tàl kinh
bang tế Uiế, một con ngiíời “tài hoa danh vọng viíỢt bậc”.
Hình ảnh trạng nguyên Lương Thế Vinh còn sống
mãi trong tâm thức mọi người bằng truyền thuyết và giai
thoại về cuộc đời, sự nghiệp, tài đức và lòng yêu nước,
yêu dân của ông.
Nhân dân làng Cao Hương đã quý mến giữ ^ n phần
mộ của ông tại khu Mả Trạng. Đền thờ trạng nguyên
Lương Thế Vinh được xây dựng trên nền nhà cũ tại Giáp
Nhất, làng Cao Hương.
Giaỉ thoại
Có nhiều giai thoại về Lương Thế Vinh.
về sự sáng tạo của Lương Thế Vinh hồi nhỏ. có giai
thoại kể rằng một lần trong lúc đang chơi bóng với các
Những nhả bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam 27
bạn, quả bóng lăn xuống một hố hẹp và sâu, tưởng như
không lấy lên được. Lương Thế Vinh đã nghĩ ra cách lấy
bóng lên bằng việc đổ nước vào hố và lợi dụng việc bóng
nổi trên nước để lấy lại quả bóng.
về phong cách học tập của Vinh, có giai thoại so sánh
ông với Quách Đình Bảo cũng là người nổi tiếng về ứiông
minh, học giỏi ở vùng Sơn Nam (thuộc Thái Bình và Nam
Định bây giờ). Klii sắp đến kỳ thi của triều đình, Quách
Đìnli Bảo thì ngày đêm dùi mài kinh sử quên ngủ, quên
ăn; còn Vinli thì thií giãn, thả diều cùng bạn bè. Kì thi đó
Quách Đ'mh Bảo đỗ đầu nhưng đến khoa thi Đình (kì thỉ
Quốc gia) Quý Mùi năm Quang Thuận ứiứ tư, đời vua Lê
Thánh Tông (1463) Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên (đỗ
đầu), Quách Đìnli Bảo đỗ Thám hoa (đỗ thứ 3).
Sự sáng tạo khoa học của Lương Thế Vinh được
truyền khẩu qua câu chuyện ông tiếp đón sứ nhà
Thanh là Chu Hy. Hy đã nghe nói về Lương Thế Vinh,
không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn
tinh thông toán học, nên thách đố Vinh cân một con
voi. Lương Thế Vinh đưa voi lên một chiếc thuyền rồi
đánh dấu mép nước bên thuyền, sau đó dắt voi lên.
Tiếp theo, ông ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, cho
đến lúc thuyền chìm xuống đến đímg dấu cũ. Việc còn
lại là đưa từng viên đá lên cân và cộng kết quả. Chu Hy
thán phục Vinh nhưng tiếp tục đố ông đo bề dày của
một tờ giấy xé ra từ một quyển sách. Khi nghe Vinh nói
chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ
là ra ngay kết quả, Chu Hy ngửa mặt lên trời than:
“Nước Nam quả có lắm người tàl!”.
(“Danh nhân Hà Nội/Vietnam+)
28 Tỉi sách 'Việt Nam - đất nước, con người"
ĐẠI DANH Y-NHÀ T ư TƯỞNG
HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC
NGỜI SÁNG DANH Y HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG
LÊ HỮU TRÁC
Cứ rnổi dộ xuân ưề là thầy thuốc không thể không
nhớ đến một con người mà tên tuổi vằng vặc như sao
Khuê với ánh...
B iên soan
Đấtnử«3c-Con ngơòr
NHỮNG
Việt Nam
Những nhà bác học nối tiếng
ừvng ÍỊch sử Việt Nđm
T ủ SÁCH 'VIỆT NAM ĐẢT NƯỚC, CON NGUỬI'
NHỮNG NHÀ BÁC HỌC NỔI TIẾNG
TRONG LỊCH Sử VIỆT NAM
NHÓM TRÍ THÚC VIỆT
(Tuyển chọn)
NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI
Lòi nói đ ầ u
E>ây là một cuốn trong bộ sách Việt Nam ■ Đất
nước con người gồm nhiều cuốn về các chủ đề khác
nhau. Trong cuốn sách này tinh chọn 18 nhà bác học
xuất sắc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong lịch sử từ cổ
chí kim. Những gương mặt các nhà bác học ưu tú, đạt
diện cho tài năng và đạo đức của dân tộc ta, những
tấm gương về sự uyên bác, được thừa nhận là có sức
ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của bộ
môn khoa học mà họ đeo đuổi và ở họ, dù trong hoàn
cảnh nào của xá hội cũng ngời sáng vẻ đẹp tám hồn và
trí tuệ.
Chúng tót cố gắng tránh sự trùng lắp với các danh
nhân đã được giới thiệu trước đây, tuy vậy có một vài
trường hỢp bất khả kháng nếu không nêu tên như một
nhà bác học lỗi lạc, ví dụ Trạng Lường Lương Thế Vinh
hay Lê Quý Đôn, tuy nhiên, ở đây chúng tôi tiếp cận họ
từ góc độ nhà bác học với những thành công của họ
trong việc xây dựng nên cơ sở của một ngành khoa học.
Tất nhiên còn nhiều người khác nữa cũng có công
lớn vớt nền khoa học việt Nam, nhưng vì khuôn khổ
sách có hạn, chúng tôl chỉ chọn những người, theo
đánh glá chủ quan của mình, xứng đáng là đạt diện
tiêu biểu cho gtớl khoa học của nước nhà.
Xin trán trọng giới thiệu cuốn “Những nhà bác học
nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam” vớt các độc giả.
NHÓM TUYỂN CHỌN
Những nhà bác bọc nối tiếng trong lịch sử Việt Nam 1
ĐẠI DANH Y TUỆ TĨNH
Tiiệ Tĩnh chính tên là Nạiyền Bá Tĩnh, biệt hiệu là
Hồng Ngliĩa, pháp hiệu (theo tên gọi của nhà chùa) là
Tuệ Tĩnh. Ông sinh ra ở làng Nghĩa Phú (tục gọi là làng
Xưa), thuộc tổng Văn Thai, huyện cẩm Giàng (gần Kẻ
Sặt), phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương - nay là thôn
Nghĩa Phú, xã cẩm Vũ, huyện cẩm Giàng, tỉnh Hải
Dương. Thôn này ở cách ga Cao Xá trên đường sắt Hà
Nội - Hải Phòng 1,5 km và cách tỉnh lỵ Hải Dương hơn
10 km.
Vì sinh ở làng Nghĩa Phú, phủ Thượng Hồng, nên
Tuệ Tĩnh đặt bỉệt hiệu là Hồng Nghĩa. Vì thế mà sau này
ông có tác phẩm “Hồng Nghĩa giác tư y thư”, và cuốn
“Nam Dược Thần Hiệu”, là hai tác phẩm quý giá còn để
lại cho chúng ta đến hôm nay.
về năm sinh của Tuệ Tĩnh cho đến nay vẫn còn
nhiều ý kiến khác nhau, về thanh danh của Tuệ Tĩnh,
các tài liệu cũng chưa thống nhất. Tương truyền, Tuệ
Tĩnh là một nhà sư tliông minh lỗi lạc, tliỉ đậu Đệ nhị
giáp tiến sĩ, tức Hoàng giáp, và lại giỏi thuốc trị bệnh
nên bị bắt đi cống cho nhà Minh, ớ Trung Quốc, Tuệ
Tĩnh đã chữa cho Tống Vương Phi (vỢ vua Minh) khỏi
bệnh sản hậu nên điíỢc phong là “Dại Y Thiền Sư”. Hiện
nay ở các đền thờ ông, có các câu đối ngụ ý về các sự
tích đó. Thí dụ ở đền bia làng Văn Thai có câu:
Hoàng giáp phương đanh đẳng Bắc địa,
Thánh sư diệu dưỢc trấn Nam Bang.
8 Tú sách 'Việl Nam ■dất nước, con ngưài'
ĐưỢc tạm dịch như sau;
Thỉ đậu Hoàng giáp tiếng lừng Trung Quốc
Chữa bệnh thần diệu tài quán Nam Bang.
Nhưng theo cuốn; “Hải Dương phong vật chí" (A.882
Fo 76b của Thư viện Khoa học) chép: “Tuệ Tĩnh tiên
sinh, thầy thuốc danh tiếng ở xâ Nghĩa Phii, huyện cẩm
Giàng, chuyên dùng thuốc nam chiìa bệnh rất công hiệu,
có chép các tập dược tính chỉ nam và 13 phương gia
giảm truyền lại đời sau”.
Sử sách còn chép lại rằng: Lúc Tuệ Tĩnh lên sáu tuổi
thì cha mẹ đều mất, vì mồ côi nên ông điíỢc một hoà
thượng chùa Hải Triều ở Yên Trang (sau này gọi là chùa
Nghiêm Quang, tức chùa Giám, thuộc xã Tân Sơn, huyện
Cẩm Bình) đem về nuôi dạy. Năm lên 10 tuổi, ông đã đưỢc
sxí cụ chùa Giao Thủy, ở Sơn Nam (Nam Định) đưa về cho
học với các nhà S IÍ trong chìia Dĩmg Nhuệ, ở chùa này, ông
có pháp danh là Tiểu Huệ, biệt danh là Tuệ Tình, ông
được nhà chùa cho học chữ và học ngliề tliuốc để giúp việc
chữa bệnh cho dân nglièo trong xã, huyện. Năm 22 tuổi,
Tuệ Tĩnh đi tlii Hương và đỗ nhất bảng, nhưng ông không
ra làm quan mà vẫn ở lại chùa tiếp tục việc chữa bệnh, lấy
pháp hiệu Tuệ Tĩnh cũng rù' đó. Năm 30 tuổi, Tuệ Tĩnh trở
về chùa Yên Trang làm sư trụ trì, tu sửa lại chùa và nhiều
chùa khác ừong huyện. Năm 45 tuổi, Tuệ Tĩnh đi thi Đ'mh
và đỗ Hoàng giáp. Năm 55 tuổi, ông bị bắt đi sứ sang
Trung Quốc, đưỢc Minh triều giữ lại làm việc ở Viện Thái
y, rồi mất tại tỉnh Giang Nam (kliông rô tại huyện, xã nào
ở tính này?).
về sự ngliỉệp y học của Tuệ Tĩnh, ông đã soạn các
sách “Dược tính chỉ nam” và “Thập tam phương gia
Những nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam 9
giảm”... những bản nguyên tác của ông nay không còn
trọn vẹn, do vào cuối thế kỷ xrv, giặc ngoại xâm sang
xâm chiếm nước ta, chúng đâ phá hủy nhiều thư tịch
lớn. Những bản hiện còn do người đời sau ghi chép qua
truyền khẩu dân gian như: “Nam Dược Thần Hiệu” do
Hoà diượng Bản Lai chùa Hồng Phúc (ở Hòe Nhai, Hàng
Than, Hà Nội) biên tập. bổ sung vào năm Tân Tỵ cách
đây đúng 240 năm (1761-2001).
“Nam dược chính bản", do triều đình Lê Dụ Tông
biên tập (sau đổi tên sách là “Hồng Nglũa giác tư y tíaư”)
và điíỢc in vào năm Ất Dậu (1717) gồm; “Quyển thượng
và quyển hạ”.
Trong cuốn “Hồng Nghĩa giác tií y thư”, Nhà xuất
bản Y học, Hà Nội - 1978, lại chép: sách “Hồng Nghĩa
giác tư y thư” do Y viện triều Lê Dụ Tông xuất bản năm
Quý Mão (1723).
Quyển Thượng: “Nam DưỢc Quốc Ngữ Phú” gồm 590
tên vỊ tliuốc nam và “Trực giải chỉ nam dược tính phú”
gồm đặc tính cỉia 220 vị thuốc nam. Quyển Hạ: “Y luận”,
là sách viết về các lý luận từ âm dương ngũ hành sinh
hóa vào con ngvĩời trong tiết khí bốn mùa, sự ảnh hiíởng
vào bệnh tật, cách điều trị lâm sàng. Và “Thập tam
phương gia giảm” phụ “Bổ âm đơn và dược tính phú”
bằng chữ Hán. Là sách hướng dẫn gia, giảm khi dùng
thuốc chữa bệnh.
Cuốn “Nam Dược Thần Hiệu” của Tuệ Tĩnh, được
Nhà xuất bản Y học, in lần thứ hai vào năm 1972. Bộ
này gồm 11 quyển: Quyển đầu nói về dược tính của 119
vị thuốc nam. Mười quyển sau, mỗi quyển nói về một
khoa trị bệnh...
10 Tủ sách "Việt Nam - đất nuớc, con nguôi"
Còn cuốn: “Hồng Nghĩa giác tư y Uiư” của ông, được
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, in năm 1978 gồm chín
phần lớn (chưa kể lời giới thiệu của nhà xuất bản và lời
tựa của các quân y Viện triều Lê Dụ Tông, dày 319
trang), cả hai bộ sách này của Tuệ Tĩnh đều có ảnh
hưởng rất sâu rộng trong y gia Việt Nam, mà cho đến
hôm nay, vấn đề lý luận và thực tiễn vẫn luôn được thừa
kế phát triển và phổ biến. Nhất là cuốn “Nam DưỢc
Thần Hiệu” của ông, nhiều thầy thuốc từ trước đến giờ,
vẫn theo phương pháp trị liệu của Tuệ Tĩnh để chữa
bệnh rất hiệu quả, mà Hải Thượng Lãn ông - Lê Hữu
Trác - là một bậc Đại y tôn. cũng chịu ảnh hưởng của
Tuệ Tĩnh trong công việc biên soạn quyển "Lĩnh Nam
Bản Thảo"...
Có thổ nói: Tuệ Tĩnh là một danh y Việt Nam đã mở
đường cho sự nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền
móng cho Y học dân tộc của niíớc nhà. ông đã tổng hỢp
và để lại những bài thuốc kinh nghiệm quý báu cho một
số khá nhiều bệnh tật. Đó là một tài liệu có giá trị lớn
cho sự thừa kế và phát huy vốn cũ y dược của nhân dân
ta, thật là một cống hiến rất lớn của ông. Và cũng chính
do gây dựng được phong trào trồng cây tliuốc trong gia
đình để tự chữa bệnh, nhờ vậy mà năm 1533, với cây
thuốc sẵn có mà dân chúng thoát khỏi bệnh sốt rét
hoành hành, hay dịch tả tại Thái Nguyên năm Giáp Tuất
(1574)...
[Tuệ Tĩnh còn tập hỢp những bài thuốc chữa bệnh
cho gia súc,, ,CÓ thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho
ngành tliú y dân tộc.
Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh
Những nhả bác học nổi tiêng trong lịch sử Việt Nam
11
thuốc Việt Nani. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã
Cẩm Văn, cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung,
nay là cliùa Giám, xã cẩm Sơn. huvện cầm Giàng, có
tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ óng ở đền Bia viết, dịch
nghĩa như sau:
Aíở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái
lỉnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa cẩm
Giang.
Nguyễn Duy Cách
(•) Đoạn troníi ngoặc [...] do NBS thêm vào.
12 Tusách 'Việt Nam - đất nước, con nguời'
VŨ HỮU - NHÀ TOÁN HỌC ĐẦ u
CỦA VIỆT NAM
t iê n
Vũ Hữu (1437-1530) là một nhà toán học người Việt,
và cĩing là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông,
Lê Hiến Tông, ông còn được coi là nhà toán học đầu
tiên của Việt Nam.
Ông ngiíời làng Mộ Trạch, tổng Thì Cỉí, huyện
Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là
làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh
Hải Dương. Ông là người đỗ tiến sĩ đầu tiên của làng Mộ
Trạch dưới triều Lê Sơ, là con thứ ba của cụ Vũ Bá
Kliiêm, thuộc đời thứ 5 họ Vũ làng Mộ Trạch. Theo sách
gia phả họ Vũ ở làng Mộ Trạch glii lại thì Vũ Hữu sinh
năm 1443 (một số tài liệu ghi Vũ Hữu sinh năm 1437).
Ông có em ruột là Vũ Phong, một Đô lực sĩ, làm võ quan
đến chức Cẩm y vệ úy ty chỉ huy sứ thời vua Lê Thánh
Tông, dân gian tôn là Trạng Vật. Ngoài ra, dòng tộc ông
về sau nhiều đời đỗ đạt, Vũ Hữu là bác của Víi Đôn, cao
tổ của Vũ Lương, tăng tổ của Vũ Đình Lân, viên tổ của
Vũ Đình Thiều, Vũ Đình Ân, v.v. đều là những bậc khoa
bảng vang danh cả.
Thuở nhỏ, ông không được đi học vì nhà nghèo,
nhưng Vũ Hữu đã sớm bọc lộ trí thông minh mẫn tiệp,
tư chất tinh anh. Khi ông còn bé, dân làng Mộ Trạch
muốn sỉía S cU ig mới ngôi đình bị dột nát, các bô lão
trong làng lúng túng chẳng biết tính toán làm sao để có
Uiể hoàn thành ngôi đình. Vũ Hữu chỉ cần nhìn qua ngôi
đình, lấy que vạch lên đất tính toán, một lát đã xong.
Những nhà bác học nối tiếng trang hch sứ Việt Nam
13
Toán ứiợ làm y theo cách cậu vẽ, quả nhiên đúng khớp
cả. Mọi người ngạc nhiên, cho Vũ Hữu là thần đồng. Từ
đó họ góp tiền nuôỉ cậu ăn học.
Tài tính toán nhanh và chính xác của cậu. cùng với
lập luận khoa học sắc bén đã làm sáng tỏ những vụ việc
tranh chấp, kiện tụng giữa dân làng tưởng chừng như bế
tắc, không manh mối. Hơn thế nữa, với những phương
pháp sáng tạo vượt trước thời đại, cậu đã biết ứng dụng
các phép đo lường phức tạp, mà mãl về sau này, con
người mới tìm ra nguyên lý và phổ biến rộng rãi.
Tuy là nhà nho, nhưng Vũ Hũu lại khác người, ông
đặc biệt say mê môn toán pháp, ông ra sức vận động
đưa toán học vào việc thi cử nhưng không được nhà vua
chấp thuận.
Ông hệ thống hoá những thành tựu về hình học và
số học đương thời, viết thành quyển Lập Thành Toán
Pháp chỉ dẫn cách chia cụ thể và chính xác về cách chia
ruộng đất, xây dựng nhà cửa, thành luỹ... Các phép đo
ruộng đất được tính theo đơn vị mẫu, sào, thước (24 mét
vuông) và tấc (1/10 thước). Đây là quyển sách toán học
cổ nhất nước ta, nay không còn.
Nãm Quý Mùi (năm 1463) đời vua Lê Thánh Tông,
ông đỗ Hoàng giáp khi mới 20 tuổi, ông làm quan đến
chức ThiíỢng thư Bộ hộ. Bia khoa Quý Mùi hiện còn ở
Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội, có tên ông.
Đời vua Lê Thánh Tông, ở kinh đô Thăng Long, các
cửa Đoan Môn, Đại Hiíng, Đông Hoà của kinh Uiànli xây tít
đời Lý, bị sụt lở quá nhiều. Triều đình ngliị bàn tu sửa lại.
Vua sai Vũ Hữu trù tính nguyên vật liệu và nhàn công cần
14 Tú sách "Việt Nam - dất nuúc con nguùi'
tliiết. ông đến tìíng cửa thành, đo đạc diiều cao thấp, rộng
hẹp. lập phép tính mọi thứ cần tliiết, đôn đốc tíii công. Tn
sửa xong, số ngiivên vật liệu, nhân công mà ông trù tính
coi nluí víía đủ. Mọi người đều phục tài. Nhà vua khen tài
tính toáji của ông, tluíởng cho 100 mẫu ruộng ở tào vệ
Nam Xương, phong ông là Trạng toán.
Thế kỷ 15. dưới triều vua Lé Thánh Tông, đã đồng
thời xuất hiện hai nhà toán học lỗi lạc, đều viết sách để
lại cho đời. Tiếc thay, tác phẩm Lập Thành Toán Pháp
cỉia Vũ Hữu đến nay vần chưa tìm ra.
Tuy làm quan, nhưng Vũ Hữu luôn giữ mình trong
sạch, thanh liêm, cứng cỏi, cuộc sống gia đình cần kiệm.
Ngày ông đỗ Hoàng giáp, theo hương lĩớc cỉia làng Mộ
Trạch quv định: HỄ ai đỗ đại khoa, dân làng góp tiền
mừng con lỢn, người đỗ đạt phải khao làng một con
trâu. Nhà nghèo, Vũ Hữu buộc phải mua trâu để khao
làng mà không có tiền để mua trâu cày cho gia đình. Bài
thơ tự thuật của ông có câu:
Nhậm nhiệm chu niên quan lịch tiến
Te ngưu thường hừu, phạp ngưu canh
Nghĩa là:
Nhận nhiệm nhiều năm quan thường tiến
Trâu khao thì có. chẳng trâu cày
Vũ Hữu làm quan qua 7 đời vua triều Lê sơ: Lê
Thánh Tông (1460-1497); Lê Hiển Tông (1497-1504);
Lê Duệ Tông (1504-1505); Lê Uy Mục (1505-1510); Lê
Tiíơng Dục (1510-1516); Lê Chiêu Tông (1516-1522); Lê
Cung Hoàng (1522-1527). ông có 5 con và cháu ruột đỗ
tiến sĩ. cùng được kliắc tên ở Văn miếu Mao Điền (Hải
Những nhà bác học nối tiếng trong lịch sứ Việt Nam
15
Diíơng) và Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).
Ngoài 70 tuổi, ông cáo quan xin về hiíu, làm nhà đặt
tên là Phượng Tri am. ông được tặng phong là Thái bảo.
Năm 1527, vua Lc Cung Hoàng tin nhiệm ông làm
Nguyên lão đại thần, cử ông cùng với Phan Đình Tá
mang cờ tiết, kim sách, mũ áo thêu rồng đen, dát đai
ngọc, kiệu tía đến cổ Trai tấn phong tước viíơng cho
Mạc Đáng Dung.
Khỉ nhà Mạc thay ngôi vua nhà Lê, ông vẫn được
triều đình vời làm quan. Năm Canh Dậu (năm 1530) ông
mất, thọ 93 tuổi.
Ông được thờ tại nhà thờ Hiển Đức Đường, phần mộ
còn tại xi'í Mả Miễu (Mộ Trạch).
Cháu ông là Lê Quang Bí, một văn thần nổi tiếng đời
nhà Mạc, đã có đề tliơ vịnh rằng:
Hào kiệt do sơ tiến si khoa
Viết cần, viết thận, viết vô sa.
Chư thào diệt chí công năng trứ
Đồng Hệt hàm suy đức nghiệp gia
Đường tướng thủ văn khám Tống Cảnh
Tấn triều bác vật tiện Trương Khoa
Môn đình thanh tử tương huy áng
Dư khánh tông tri tích thiện gia.
Dịch là:
Hào kiệt nguyên trong tiến sĩ khoa - Chĩí cần, chữ
thận chẳng sai qua. Tì tào thử khắp tài năng rõ - Liêu
hào suy tôn đức nghiệp già. Điíờng tướng thủ văn so
Tống Cảnh - Tấn triều bác vật sách Trương Hoa - Môn
16 Tusách 'Việt Nam - đất nước, con nguôi'
đình rực rỡ màu xanh tía - Tích thiện cho hay bởi những
nhà.
:f=
ÍỊ:
H:
Tích trạng:
Cái cán bàng nước
Lần nọ, Vũ Hữu được bố cho theo cùng, sang thăm
ông bạn ở làng bên. Gặp nhau, hai ông ngồi trên bộ ván,
vìía hút thuốc vừa hàn huyên tâm sự, còn lũ trẻ cũng
nhanh chóng nhập cuộc, bày trò ngoài sân...
Người bạn vốn có chiếc điếu bát rất đẹp, men sứ
xanh lam, lại khảm bạc chạm trổ hình rồng mây bao
quanh, quả là độc nhất vô nhị, nổi tiếng khắp vùng.
Châm vê thuốc ở nõ. rít một hơi dài rồi phà khói ra đầy
vẻ sảng khoái, ông Khiêm nói:
Chiếc điếu bát này đẹp tuyệt, tiếc nỗi nõ điều bằng
đồng, chứ bằng bạc nốt thì hoàn hảo lắm!”
Ông bạn nglic nói, phân trần ngay;
"Đúng thế đấy! Tôi đã định nhờ thợ đúc chiếc nõ
bạc, khổ nỗi không biết phân lượng bao nhiêu để giao
cho đúng số bạc cho thợ...” Rồi như chợt nghĩ ra. ông
tiếp: “À mà này! Tôi nglie đồn thằng bé Hĩíu có tài tính
toán giỏi lắm, hay ta hỏi nó thử xem...”
Được gọi vào, Hữu lắng nghe bố bạn giải thích, rồi
cầm chiếc nõ ông rút từ điếu bát đifa cho, cậu mân mê,
ngắm nghía mãi vẩn không tìm ra cách cân đo.
“Uống chén trà cho tỉnh táo đã cháu, rồi từ tốn suy
nghĩ...”
Những nhà bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam
17
Cầm tách trà nóng, đầu óc vẫn nghĩ ngợi miên man,
Vũ Hữu vô tình làm nước trong tách sóng sánh, văng
bắn cả vào tay. Cậu giật mình nhìn lại tách trà, chợt nảy
ra phát kiến liền reo lên: “Cháu tính đưỢc rồi!!!”
Hai người bạn già hết sức ngạc nhiên, trố mắt ra
nhìn, chẳng hiểu gì cả...
Vũ Hữu đặt tách trà lên một chiếc đĩa khô, với lấy
ấm rót thêm cho đầy ắp, tưởng chừng nhií dư một giọt là
đổ ra ngoài. Đoạn cậu cầm chiếc nỏ điếu, từ từ bỏ vào
trong tách, nước tràn ngay xuống đĩa... Bỏ tách ra khỏi
đĩa rồi rót số nước tràn ở đĩa vào một cái tách khác, cậu
giơ lên nói:
“Đây ạ! Khối híỢng bạc để đúc chiếc nỏ bằng đúng
khối híỢng nước chứa trong tách này!”
Bằng con đường suy luận, sáng tạo độc đáo, cậu bé
Vũ Hiìu, ngay từ thế kỉ XV, đã tìm ra phương pháp tính
tliể tích của những vật khó đo lường, như chiếc nõ điếu
chẳng hạn, đã khiến cha ông phải trầm trồ thoảng thốt:
“Quả nhiên “Hậu sinh khả úy”... xứng danh là
“Thần đồng toán học” kì tài trong thiên hạ.”
Thiếu một viên, thừa một viên
“Sao lại thế này? Cả tháng trời rồi mà các khanh
vẫn không dự toán chính xác số gạch để sửa cổng thành
ư? Trẫm thất vọng quá đấy!” - Vua Lê Thánh Tông vỗ
Long án, vẻ không hài lòng sau khỉ đọc qua mấy tờ tấu
chương, mỗi tờ nêu một số liệu khác nhau... Các đại
thần, nhất là Thượng tíiư cho đến Lang trung bộ Công
đều cúi mặt, bối rối. Rồi chợt nhớ ra, vua phán:
“Trẫm vẫn thường nghe Khâm Hình viện Lang trung
18 Tủ sách "Việt Nam - đất nước, con người'
tài tính toán hơn người, truyền cho vào phục mệnh”.
Được lệnh, Vũ Hữu vào bái kiến, vua giao ngay việc
tính toán, sửa chữa cho ông, cấm không được dềnh
dàng, chậm trễ.
CÓ
Rời cung, Vũ Hữu dẫn theo mấy người thợ, bắt tay
vào việc ngay.
Thành Thăng Long được xây vào đời nhà Lý, trải
qua hơn bốn trăm năm, nhiều chỗ đã mục nát, hư hỏng
cả. Quan sát khắp lượt, Vũ Hữu quyết định sữa chữa
cổng Đông Hoa trước, là cổng lớn và đổ nát nhiều nhất.
Đốn tối, ông vẫn chong đèn ghi chép, cho thợ khuân xếp
gạch, vôi vữa sẵn sàng để hôm sau sửa thành.
Sáng lại, vào triều kiến, Vũ tâu:
“Thần đâ tính toán xong vật liệu sửa thành. Nhưng
nội nhật hôm nay chỉ kịp sửa một cổng, xin bệ ban hạ
lệnh khởi công!”
Vua Thánh Tông rất hài lòng với cách làm việc
nhanh nhạy đó, lập tức phê chuẩn, rồi đích thân xa giá
ra cổng thành Đông Hoa ngự khán, các quan cùng theo
hộ giá.
Vài vị đại thần thấy số vật liệu Vũ Hữu tính khác xa
tính toán của họ nên bực tức, xấu hổ, sàm tấu với vua:
“Bẩm! Chỉ làm tính trong một đêm, chắc ^ đã
đúng? E rằng làm ẩu, hỏng việc lớn!”
“Khải bẩm đúng ạ...! Hay là bắt làm Quân lệnli trạng,
nếu xây ứiừa hay thiếu vật liệu, đều phải chịu tội...”
"Thần đã tính toán kỹ, nếu thừa hay thiếu, dù chỉ
một viên gạch, xln cam chịu tội!”
Vua ưng thuận, các quan thì hí hửng lắm, chắc mẩm
Những nhả bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam
19
phen này Vĩi Hữu mắc tội rồi, dù là "thần toán” cũng
không thể chính xác đến vậy. Có kẻ xấu bụng còn lén
giấu bớt một viên gạch xếp sẵn, đủ để ám hại Vũ Hữu.
Trống đổ hồi, lệnh khởi công ban ra... Vũ Hữu kiểm
tra lại các khối gạch xếp ngay hàng, chợt trông thấy một
chồng hơi lệch đi, liền tâu:
“Bẩm! Thiếu mất một viên gạch! Ai đó đã rút bớt...
Không đúng như số gạch đã sắp sẵn đêm qua.”
Liền đó, một viên gạch khác được bổ sung đến, rồi
vua quan hồi hộp theo dõi Vũ Hữu đích thần chỉ huy
đôn đốc đám thợ xây sửa thành.
xế chiều, công việc hoàn tất, số gạch vĩía được sử
dụng hết. chỉ còn lại duy nhất... một viên gạch! Các
quan hể hả lắm, đồng tâu lên vua xin trị tội Vũ Hữu. Vua
cầm viên gạch cuối cùng trên tay, nhấc nhấc ước lượng,
đoạn bảo:
'Kể ra tính toán đitỢc vậy đã là tài giỏi tột bậc,
nhưng viên gạch thừa này lại to nặng hơn các viên kia,
cớ chi?”
Vfi Hữu bị các quan công kích, vẫn điềm nhiên, giờ
nghe vua phán hỏi, mới quỳ tâu:
“Bệ hạ quả anh niính! s ố gạch cần để sửa chữa cổng
thành Đông Hoa là vừa đủ. Riêng viên gạch này, kích cỡ
lớn hơn chỉ phù hỢp với cột thành phía Đông kia, nơi đó
tường còn tốt, duy chỉ có một viên vỡ cần thay thế thôi!"
Không aỉ chịu tin, cho là Vũ Hữu chống chế chạy tội,
đến chừng thợ leo lên phía tiíờng Đông, gỡ viên gạch nát
ra, trám viên gạch thừa vào thì vừa khít, sít sao. Lúc đó
mọi người mới tâm phục, khẩu phục. Vua ban khen:
20 Tủ sách 'Việt Nam -đất nước, con nguùi'
“Trước thiếu một viên, thừa một viên. Rốt lại vừa
đúng! Klianh quả là thần toán đại tài của nước Nam ta
đó!”
Rồi, vua trọng thưởng, giao phó cho Vũ Hiìu đảm
trách sửa chữa kỳ hết các cổng tliành còn lại, Vũ Hữu
vẫn tính toán chính xác, không thừa, không thiếu một
viên gạch!
Hiến kế trang cờ
Khỉ sang nước ta, sứ nhà Minh lại thách thức vua Lê
đấu cờ, vì chúng nghe đồn Thánh Tông tài giỏi cả bốn
môn: cầm, Kỳ, Thi, Hoạ, nên lập tâm mang theo một kỳ
thủ bậc nhất Minh quốc, cho đóng vai sứ giả, hòng thách
đấu và buộc vua tôi nước ta phải chịu thua, khuất phục.
Trước sự thách mời, Thánh Tông miễn cưỡng nhận lời
nhitng trong bụng lo lắm, vì biết không thắng nổi kỳ thủ
kia. Các quan xin tiến cử một danh thủ làng cờ nước ta
bấy giờ là Vũ Huyên, cũng ở làng Mộ Trạch huyện Đường
An với VĨI Hữu, dân gian vẫn gọi người này là “Trạng cờ”
vì tài nghệ của ông: Đã đấu là thắng!
Có Trạng Cờ rồi. nhưng làm sao mách nước cho
vua? Vì khi giao đấu, chỉ có hai đấu thủ đối diện trên
bàn cờ. Mà học hết nước cờ thì không thể kịp! Vậy là vẫn
bế tắc...
“Thần có kế sách này, hiện đang lúc nóng bức, bệ hạ
cho dựng một sàn đấu lộ thiên trong vườn Thượng uyển
lấy lý do vìía đấu cờ vỉta hóng mát thưởng hoa. Rồi cho
hai lính vác lọng đứng hầu. Vĩi Huyên sẽ cải trang làm
người cầm lọng đííng che cho bệ hạ, trên lọng soi một lỗ
nhỏ đủ để tia nắng rọi xuống bàn cờ. Tới lượt đi, hễ Vũ
Những nhà bác học nối tiẾng trong lịch sứ Việt Nam 21
Huyên điều khiển Ua nắng chiếu vào quân cờ nào, dịch
chuyển đến đâu, bệ hạ cứ theo đó mà đi qua là được!”
Mọi người cho là diệu kế, bèn tlieo đó mà làm. Quả
nhiên qua ba ván liền, tay sứ giả kỳ thủ kia đều thua
trắng. Tức tối đến phá luật, hắn xin hầu tiếp mấy ván
nữa, lại vẫn thua sạch. Giờ thì hoảng sỢ thực sự! Hắn
gập người bái dài mà tôn đức vua làm “Đệ nhất kỳ thủ”.
Thắng được sứ nhà Minh, vua Thánh Tông rất trọng đãi
công lao của Vũ Huyên, ban cho danh hiệu “Đấu kỳ
trạng nguyên”. Từ đó trong dân gian truyền tụng câu
ngạn ngữ: “Rượu Hàng Mai, cờ Mộ Trạch” để tán dương
tài đấu cờ của ông. (Nhắc đến cờ, phải nói đến người tài
ở làng Mộ Trạch.)
Riêng Vũ Hữu càng điíỢc vua và quần thần kính
trọng, nể phục tài trí phỉ thường.
ST
l i Tù sách 'Việt Nam -đất nuớc, con người'
LƯƠNG THẾ VINH - TRẠNG NGUYÊN ĐA TÀI
Trạng nguyên Lưdng Thế Vinh, tự là Cảnh Nghị,
hiệu là Thụy Hiên, sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu
(1441) trong một gia đình nông dân có học ở làng Cao
Hương, huyện Thiên Bản, nay là thôn Cao Phương, xã
Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Thời niên thiếu, Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là thần
đồng, thông minh, nhanh trí. Lớn lên, Lương Thế Vinh
càng học giỏi, học có phương pháp, kết hỢp học với lao
động, vui chơi giải trí.
Chưa đầy hai mươi tuổi, tài học của Lương Thế Vinh
đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 23 tuổi, đời vua
Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ tư (1463), Lương
Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi.
Cuộc đời 32 năm làm quan, Lương Thế Vinh đều ở
Viện Hàn lâm, trải thăng đến chức Hàn lâm Thị thư
chưởng Hàn lâm viện sự, đứng đầu Viện Hàn lâm.
Ông có biệt têũ về ngoại giao, được nhà vua tin yêu,
giao trọng ữách soạn thảo vãn từ bang giao và đón tiếp
sứ thần nước ngoài.
Nhiều bài biểu do Lương Thế Vinh soạn gửi cho vua
Minh để giải quyết mối quan hệ giữa hai nước, đều được
vua Minh chấp tliuận. Vua Minh phải khen là “nước
Nam có lắm người tài”.
Trạng nguyên Lương Thế Vinh còn dạy học ở Quốc
Tử Giám, Sùng Văn quán và Tú Lâm cục là những
trường cao cấp. thời bấy giờ đào tạo nhân tài cho đất
Những nhà bác học nổi tiếng trang lịch sứ Việt Nam 23
nước về văn chương và toán học.
Học trò ciìa ông có nhiền ngiíờỉ đỗ đạt cao như
Nguyễn Tất Đại (người làng Kha Lý, xã Thụy Quỳnh,
Thái Thụy, Thái Bình), đỗ tiến sĩ năm 1469; Lương Đắc
Bằng (làng Hội Triều, nay thuộc Hoằng Phong, Hoằng
Hóa, Thanh Hóa), đỗ Bảng nhãn năm 1499.
Lương Thế Vinh không những dạy toán học ỏ TÍI
Lâm cục, ông còn giữ chức cấp sự trung khoa công,
chuyên khảo sát việc tạo tác các công trình như cung
điện, đền đài, thành quách, đường sá, đê điều... cần đến
toán học.
Ông đã biên soạn cuốn Đại thành toán pháp để tiện
dùng, đó là cuốn sách giáo khoa toán đầu tiên ở nước ta.
Trong cuốn sách, ông đã tổng kết những kiến thức toán
tliời đó và cả những phát minh của ông.
Trong sách dạy các kiến thức về số học, phương
pháp đo lường bóng (phương pháp đồng dạng), hệ số đo
lường, cách cân, đo, đong, đếm, định vị, đơn vỊ, tiền
vải..., dạy toán đạc điền...
Điều đáng chú ý là cuốn sách soạn từ thế kỷ XV, mà
mãi đến thế kỷ XIX nó vẫn được dùng làm sách giáo
khoa để dạy toán trong các trường học.
Thời Lương Thế Vinh, các công cụ tính toán thật là
thô sơ nghèo nàn. ở Việt Nam lúc đó công cụ tính toán
chủ yếu vẫn là hai bàn tay bằng cách “bấm đốt ngón
tay”. Khi đó người ta còn dùng một SỢỈ dây với những
nút thắt làm công cụ đếm (thắt nút, cởi nút)...
Sau nhiều ngày đêm suy n ^ ĩ, Lương Thế Vinh sáng
chế ra một công cụ tính toán lợi hơn. Cuối cùng ông đã
24 Tủ sách 'Việt Nam đất nước, con nguôi'
sáng chế ra bàn hnli gẩy - chiếc bàn tính đầu tiên của Việt
Nam. Lúc đầu ông nặn những hòn bi bằng đất có khoan lỗ
ở giữa, xâu vào một cái đũi, các xâu buộc cạnh nhau thàiứi
một bàn tính ông cải tiến dần những “vièn tính” bằng đất
thành những đốt trúc ngắn, rồi những viên tính bằng gỗ
sơn màu khác nhau để dễ tính, dễ nliớ.
Lương Thế Vinh am hiểu sâu sắc về âm nhạc và hát
chèo. Ông đã cùng Thân Nhân Trung và Dỗ Nhuận soạn
hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc dùng trong quốc lễ và triều
hội. Ông nghiên cứu hàng trăm phường chèo, biên soạn
cuốn Hý phường phả lục ghi lại các khoán ước của
phường chèo, kịch bản và diễn xuất, cách đánh trống
chèo, phương pháp múa và hát.
Năm 1501, năm nãm sau khi ông mất, bạn ông là
tiến sĩ Quách Hữu Ngliiêm (người Thái Bình) đã đề tựa
và đưa in tác phẩm trên. Lịch sử Việt Nam - tập 1, xuất
bản năm 1971 đã glii nhận: “Cuốn Hý phường phả lục
của Lương Thế Vinh xuất bản năm 1501 có thể coi đó là
tác phẩm lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ
truyền. Tác giả đã tổng kết kỉnh nghiệm và nêu lên
nhĩíng nguyên tắc có tính chất lý luận về ngliệ thuật biểu
diễn, diễn viên, múa hát và đánh trống”.
về văn thơ, Lương Thế Vinh cũng có nhiều đóng góp.
Ông giữ chức Sái phu trong hội thơ Tao Đàn của vua Lê
Thánh Tông, là người chuyên phê bình, sửa chữa thơ
trong hội, nhiều lần đã ngâm hoạ với vua Lê như bài
Tướng sĩ nhớ nhà và bài Động Lục Vân.
Ông còn cùng với Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Đào
Cử soạn nhiều bài ký, văn bia ở Văn Miếu, ở chùa Diên
Hựu (Một Cột). Ông để lại hai bài phú ca ngợi cuộc sống
Nhũng nhà bác học nối tiếng trong lịch sứ Việt Nam 2 5
thanh cao, không màng danh hoa phú quý. Văn thơ của
Lương Thế Vinh, nhìn chung thể hiện sâu sắc tư tiíởng
yêu nước, thương dân, căm ghét bọn quan lại tham
nluìng, thích cuộc sống tlianh cao, gần gũi với dân quê.
Lương Thế Vinh là người trọng tliực học, thích mở
mang kinh tế. ông đã dạy dân làng Hương làm nghề tluiốc
bắc, thuốc nam chữa bệnh cứu ngiíờỉ, khuyến khích mở
nhiều chợ bíia để dân mua bán, trao đổi hcUig hóa.
Yêu nước, thương dân, ông luôn muốn cho đất nước
thanh bình, dân ấm no, triều đình và dân cìmg lo việc
nước. Với suy nghĩ nhií vậy, nên đoạn văn sách thi Đình
nổi tiếng đó, Lương Thế Vinh khuyên nhà vua ra sítc
kén chọn người hiền tài, đặt quan chức để “vì dân mà
làm việc”, khuyên nhà vua và triều đình phải “đồng tâm
nhất thể”.
Cuối đời trạng nguyên Liíơng Thế Vinh về trí sĩ tại
quê nhà. ông về hưu thực ra không phải vì ốm yếu, mà
ông muốn rảnh rỗi trở về sống yên tĩnh ở quê hương,
làm thêm việc gì có ích trước khi xuôi tay, nhắm mắt.
Nhân dân Cao Hiíơng yêu mến Lương Thế Vinh.
Nhưng yêu hơn vẫn là đám học trò đã và đang học
Lương Thế Vinh. Cứ đến mùa sen nở, ông lại một lần
ưễn học trò mình đi thi. Học trò Sơn Nam đến theo học
ông ngày càng đông và không ít người đã thành đạt.
Rút từ bài học bản thân mình, Lương Thế Vinh rèn
cho học trò một cách học tliông minh. Klii học ra học,
khi chơi ra chơi, không học ngày học đêm theo cách sôi
kinh nấu sử.
Tuổi ngày càng cao, nhưng cũng như thú vui thả
26 Tủ sách 'Việt Nam - đất nước, con nguàỉ'
diều, hàng ngày Lương Thế Vinh thường la cà quán
nước, nhất là quán cây đa cổ thii có bóng râm mát cả
một vùng rộng ở làng bên. ở nơi đây ông có thể nghe
được nhiều điều hay dở để răn dạy học trò, răn dạy
ngiíời đời và cũng để sửa mình nữa.
Ông rất yêu con trẻ, thường bày cho chúng những
trò chơi vui nhộn và bổ ích. Thấy trẻ rất thích nặn con
rối, ông đã nghĩ ra cách chơi rối nước.
Trò chơi này thật vui, thật hấp dẫn. Người các nơi
tìm đến học để phổ biến ở quê mình. Từ đó múa rối
nước trở thành một loại nghệ thuật sân khấu đặc sắc
trong nhân dân, truyền mãi đến ngày nay.
Trạng nguyên Lương Thế Vinh mất tại quê nhà ngày
26/8 năm Bính Thìn (1496), thọ 55 tuổi.
Nhà bác học Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) đã hết lời ca
ngợi Lương Thế Vinh, đánh giá ông là con ngiíời có tàl kinh
bang tế Uiế, một con ngiíời “tài hoa danh vọng viíỢt bậc”.
Hình ảnh trạng nguyên Lương Thế Vinh còn sống
mãi trong tâm thức mọi người bằng truyền thuyết và giai
thoại về cuộc đời, sự nghiệp, tài đức và lòng yêu nước,
yêu dân của ông.
Nhân dân làng Cao Hương đã quý mến giữ ^ n phần
mộ của ông tại khu Mả Trạng. Đền thờ trạng nguyên
Lương Thế Vinh được xây dựng trên nền nhà cũ tại Giáp
Nhất, làng Cao Hương.
Giaỉ thoại
Có nhiều giai thoại về Lương Thế Vinh.
về sự sáng tạo của Lương Thế Vinh hồi nhỏ. có giai
thoại kể rằng một lần trong lúc đang chơi bóng với các
Những nhả bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam 27
bạn, quả bóng lăn xuống một hố hẹp và sâu, tưởng như
không lấy lên được. Lương Thế Vinh đã nghĩ ra cách lấy
bóng lên bằng việc đổ nước vào hố và lợi dụng việc bóng
nổi trên nước để lấy lại quả bóng.
về phong cách học tập của Vinh, có giai thoại so sánh
ông với Quách Đình Bảo cũng là người nổi tiếng về ứiông
minh, học giỏi ở vùng Sơn Nam (thuộc Thái Bình và Nam
Định bây giờ). Klii sắp đến kỳ thi của triều đình, Quách
Đìnli Bảo thì ngày đêm dùi mài kinh sử quên ngủ, quên
ăn; còn Vinli thì thií giãn, thả diều cùng bạn bè. Kì thi đó
Quách Đ'mh Bảo đỗ đầu nhưng đến khoa thi Đình (kì thỉ
Quốc gia) Quý Mùi năm Quang Thuận ứiứ tư, đời vua Lê
Thánh Tông (1463) Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên (đỗ
đầu), Quách Đìnli Bảo đỗ Thám hoa (đỗ thứ 3).
Sự sáng tạo khoa học của Lương Thế Vinh được
truyền khẩu qua câu chuyện ông tiếp đón sứ nhà
Thanh là Chu Hy. Hy đã nghe nói về Lương Thế Vinh,
không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn
tinh thông toán học, nên thách đố Vinh cân một con
voi. Lương Thế Vinh đưa voi lên một chiếc thuyền rồi
đánh dấu mép nước bên thuyền, sau đó dắt voi lên.
Tiếp theo, ông ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, cho
đến lúc thuyền chìm xuống đến đímg dấu cũ. Việc còn
lại là đưa từng viên đá lên cân và cộng kết quả. Chu Hy
thán phục Vinh nhưng tiếp tục đố ông đo bề dày của
một tờ giấy xé ra từ một quyển sách. Khi nghe Vinh nói
chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ
là ra ngay kết quả, Chu Hy ngửa mặt lên trời than:
“Nước Nam quả có lắm người tàl!”.
(“Danh nhân Hà Nội/Vietnam+)
28 Tỉi sách 'Việt Nam - đất nước, con người"
ĐẠI DANH Y-NHÀ T ư TƯỞNG
HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC
NGỜI SÁNG DANH Y HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG
LÊ HỮU TRÁC
Cứ rnổi dộ xuân ưề là thầy thuốc không thể không
nhớ đến một con người mà tên tuổi vằng vặc như sao
Khuê với ánh...
 





