THÔNG BÁO

LỊCH NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN NĂM 2025 Từ ngày 22.1.2025 đến hết ngày 03.02.2025 KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ, QUÝ PHỤ HUYNH VÀ HỌC SINH NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG !

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Ảnh ngẫu nhiên

Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

KIẾN THỨC PHỔ THÔNG

VIDEO THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    KIẾN THỨC ÔN LUYỆN THI TN THPT QUỐC GIA

    💕💕MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN ẤT TỴ NĂM 2025💕💕

    Hàn Mặc Tử và bài thơ "Trăng vàng trăng ngọc"

    Các Thế Giới Song Song - Michio Kaku _ Vương Ngân Hà (dịch)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:40' 09-03-2024
    Dung lượng: 5.2 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    CÁC THẾ GIỚI SONG SONG
    ———★———
    Tác giả
    MICHIO KAKU
    Người dịch
    VƯƠNG NGÂN HÀ
    Đơn vị phát hành
    NHÃ NAM
    Nhà xuất bản
    THẾ GIỚI

    ebook©vctvegroup
    11-05-2022

    Cuốn sách được dành tặng cho Shizue, người vợ yêu thương
    của tôi.

    LỜI CẢM ƠN

    Tôi muốn gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học sau, những
    người đã rất lịch thiệp khi bớt chút thời gian của họ để trả lời
    phỏng vấn. Các nhận xét, quan sát và các ý tưởng của họ đã
    làm phong phú rất nhiều cho cuốn sách này và tăng thêm độ
    sâu cùng trọng tâm cho nó:
    • Steven Weinberg, người đoạt giải Nobel, Đại học Texas
    tại Austin
    • Murray Gell-Mann, người đoạt giải Nobel, Viện Santa Fe
    và Học viện Công nghệ California
    • Leon Lederman, người đoạt giải Nobel, Học viện Công
    nghệ Illinois
    • Joseph Rotblat, người đoạt giải Nobel, Bệnh viện St.
    Bartholomew (đã nghỉ hưu)
    • Walter Gilbert, người đoạt giải Nobel, Đại học Harvard
    Henry Kendall, người đoạt giải Nobel, Học viện Công nghệ
    Massachusetts (đã mất)
    • Alan Guth, nhà vật lý, Học viện Công nghệ
    Massachusetts
    • Tôn ông Martin Rees, nhà thiên văn Hoàng gia Vương
    quốc Anh, Đại học Cambridge

    • Freeman Dyson, nhà vật lý, Viện Nghiên cứu cao cấp,
    Đại học Princeton
    • John Schwarz, nhà vật lý, Học viện Công nghệ California
    • Lisa Randall, nhà vật lý, Đại học Harvard
    • J. Richard Gott III, nhà vật lý, Đại học Princeton
    • Neil de Grasse Tyson, nhà thiên văn, Đại học Princeton
    và Cung thiên văn Hayden
    • Paul Davies, nhà vật lý, Đại học Adelaide
    • Ken Croswell, nhà thiên văn, Đại học California,
    Berkeley
    • Don Goldsmith, nhà thiên văn, Đại học California,
    Berkeley
    • Brian Greene, nhà vật lý, Đại học Columbia
    • Cumrun Vafa, nhà vật lý, Đại học Harvard
    • Stuart Samuel, nhà vật lý, Đại học California, Berkeley
    • Carl Sagan, nhà thiên văn, Đại học Cornell (đã mất)
    • Daniel Greenberger, nhà vật lý, Trường Đại học thành
    phố New York (City College of New York)
    • V. P. Nair, nhà vật lý, Trường Đại học thành phố New
    York
    • Robert P. Kirshner, nhà thiên văn, Đại học Harvard
    • Peter D. Ward, nhà địa chất, Đại học Washington
    • John Barrow, nhà thiên văn, Đại học Sussex

    • Marcia Bartusiak, nhà báo khoa học, Học viện Công
    nghệ Massachusetts
    . John Casti, nhà vật lý, Viện Santa Fe Timothy Ferris, nhà
    báo khoa học
    • Michael Lemonick, nhà văn khoa học, tạp chí Time
    • Fulvio Melia, nhà thiên văn, Đại học Arizona
    • John Horgan, nhà báo khoa học
    • Richard Muller, nhà vật lý, Đại học California, Berkeley
    • Lawrence Krauss, nhà vật lý, Đại học Khu bảo tồn Miền Tây
    Case
    • Ted Taylor, nhà thiết kế bom nguyên tử Philip Morrison,
    nhà vật lý, Học viện Công nghệ Massachusetts
    • Hans Moraves, nhà khoa học máy tính, Đại học Carnegie
    Mellon
    • Rodney Brooks, nhà khoa học máy tính Phòng thí
    nghiệm trí tuệ nhân tạo, Học viện Công nghệ Massachusetts
    • Donna Shirley, nhà vật lý thiên văn, Phòng thí nghiệm
    sức đẩy phản lực
    • Dan Wertheimer, nhà thiên văn, SETI@home, Đại học
    California, Berkeley
    • Paul Hoffman, nhà báo khoa học, tạp chí Discover
    • Francis Everitt, nhà vật lý, Tàu thăm dò hấp dẫn B
    (Gravity Probe B), Đại học Ttanford
    • Sidney Perkowitz, nhà vật lý, Đại học Emory

    Tôi cũng muốn cảm ơn các nhà khoa học sau đây vì những
    thảo luận thú vị về vật lý trong những năm qua đã giúp đỡ tôi
    rất nhiều trong việc làm sâu sắc thêm nội dung của cuốn sách
    này:
    • T. D. Lee, người đoạt giải Nobel, Đại học Columbia
    • Sheldon Glashow, người đoạt giải Nobel, Đại học
    Harvard
    • Richard Feynman, người đoạt giải Nobel, Học viện Công
    nghệ California (đã mất)
    • Edward Witten, nhà vật lý, Viện Nghiên cứu cao cấp, Đại
    học Princeton
    • Joseph Lykken, nhà vật lý, Phòng thí nghiệm Fermi
    • David Gross, nhà vật lý, Viện Kavli, Santa Barbara
    • Frank Wilczek, nhà vật lý, Đại học California, Santa
    Barbara
    • Paul Townsend, nhà vật lý, Đại học Cambridge
    • Peter Van Nieuwenhuizen, nhà vật lý, Đại học bang
    New York, Stony Brook
    • Miguel Virasoro, nhà vật lý, Đại học Rome
    Bunji Sakita, nhà vật lý, Trường Đại học thành phố New
    York (đã mất)
    • Ashok Das, nhà vật lý, Đại học Rochester
    • Robert Marshak, nhà vật lý, Trường Đại học thành phố
    New York (đã mất)

    • Frank Tipler, nhà vật lý, Đại học Tulane
    • Edward Tryon, nhà vật lý, Trường Đại học Hunter
    College
    • Mitchell Begelman, nhà thiên văn, Đại học Colorado
    Tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn tới Ken Croswell về vô số
    các bình luận đối với cuốn sách này.
    Tôi cũng muốn cảm ơn biên tập viên của tôi, Roger Scholl,
    người đã biên tập xuất sắc hai cuốn sách của tôi. Sự sắc sảo
    của ông đã nâng tầm hai cuốn sách này rất nhiều, và những
    góp ý của ông đã luôn luôn giúp cho nội dung và cách thức
    trình bày các cuốn sách của tôi thèm sáng tỏ và sâu sắc. Cuối
    cùng, tôi cùng muôn cảm ơn đại diện của tôi, Stuart
    Krichevsky, người đã luôn đồng hành với những cuốn sách
    của tôi trong suốt những tháng năm này.

    LỜI NÓI ĐẦU

    Vũ trụ học nghiên cứu vũ trụ như một khối tổng thể, bao
    gồm sự ra đời của nó và có lẽ cả số phận cuối cùng của nó.
    Không có gì đáng ngạc nhiên là nó đã trải qua nhiều biến đổi
    trong sự phát triển chậm chạp và gian truân của mình, một sự
    phát triển thường bị giáo điều và mê tín dị đoan che phủ.
    Cuộc cách mạng đầu tiên trong vũ trụ học gắn liền với sự
    phát minh ra kính viễn vọng vào thế kỷ 17. Với sự trợ giúp của
    kính viễn vọng, Galileo Galilei, tiếp bước các nhà thiên văn
    lớn như Nicolaus Copernicus và Johannes Kepler, lần đầu tiên
    đã mở cánh cửa trời cao cho những khám phá khoa học
    nghiêm túc. Đỉnh cao thành tựu trong giai đoạn đầu tiên này
    của vũ trụ học là công trình của Isaac Newton, với các định
    luật cơ bản chi phối sự chuyển động của các thiên thể. Giờ đây
    các quy của các thiên thể không còn được gán cho các thế lực
    tà thuật và thần bí, mà tuân theo các lực có thể tính toán được
    và có thể tái lập được.
    Cuộc cách mạng thứ hai trong vũ trụ học đã được khởi đầu
    bằng việc phát minh và xây dựng các kính viễn vọng đồ sộ
    trong thế kỷ 20, chẳng hạn như kính viễn vọng trên núi Wilson
    có một chiếc gương phản chiếu rất lớn với đường kính 2,5 m.
    Trong thập niên 1920, nhà thiên văn Edwin Hubble đã sử dụng

    kính viễn vọng khổng lồ này để lật đổ hàng thế kỷ giáo điều
    từng tuyên bố rằng vũ trụ là tĩnh tại và vĩnh cửu, bằng cách
    chứng minh rằng các thiên hà trên bầu trời đang rời xa Trái
    Đất với vận tốc khủng khiếp - điều đó có nghĩa là vũ trụ đang
    dãn nở. Điều này đã xác nhận các kết quả của thuyết tương đối
    rộng của Einstein, trong đó cấu trúc của không-thời gian,
    tưởng như là phẳng và tuyến tính, lại là động và cong. Điều
    này đã đưa ra giải thích hợp lý đầu tiên về nguồn gốc của vũ
    trụ, rằng vũ trụ đã khởi đầu bằng một vụ nổ cực kỳ mãnh liệt
    được gọi là “vụ nổ lớn” (big bang), đã làm bắn các ngôi sao và
    thiên hà ra phía ngoài trong không gian. Với công trình tiên
    phong của George Gamow và các cộng sự của ông về thuyết
    vụ nổ lớn và Fred Hoyle về nguồn gốc của các nguyên tố,
    những bộ khung nền tảng phác thảo nên sự tiến hóa của vũ trụ
    đã được xây dựng.
    Cuộc cách mạng thứ ba đang diễn ra hiện nay (2004 - năm
    xuất bản cuốn sách Các thế giới song song). Nó chỉ mới
    khoảng năm năm tuổi. Nó đã được mở ra bằng một bộ các
    công cụ mới với công nghệ cao, như vệ tinh không gian, thiết
    bị laser, thiết bị dò sóng hấp dẫn, kính viễn vọng tia X và siêu
    máy tính tốc độ cao. Bây giờ chúng ta còn có các dữ liệu có
    căn cứ nhất về bản chất của vũ trụ, bao gồm cả tuổi của nó,
    thành phần của nó, và có lẽ thậm chí cả tương lai và kết cục
    của nó.
    Các nhà thiên văn hiện nay cho rằng vũ trụ đang dãn nở
    theo phương thức tản ra xa, đang tăng tốc vô hạn định và đang
    trở nên ngày càng lạnh lẽo hơn theo thời gian. Nếu điều này
    tiếp tục, chúng ta phải đối mặt với một viễn cảnh của một “vụ

    đóng băng lớn”, khi ấy vũ trụ rơi vào tăm tối và giá lạnh, và
    toàn bộ sự sống có trí tuệ sẽ biến mất.
    Cuốn sách này viết về cuộc cách mạng lớn thứ ba này. Nó
    khác với hai cuốn sách trước đó của tôi về vật lý, Beyond
    Einstein (Vượt lên trên Einstein) và Hyperspace (Siêu không
    gian), đã giúp giới thiệu với công chúng những khái niệm mới
    về các chiều bậc cao và thuyết siêu dây. Trong Các thế giới
    song song, thay vì tập trung vào không-thời gian, tôi tập trung
    vào các phát triển mang tính cách mạng trong vũ trụ học đang
    diễn ra trong vài năm gần đây, dựa trên bằng chứng mới từ các
    phòng thí nghiệm trên thế giới và các phạm vi không gian xa
    nhất vườn tới được, cùng với những đột phá mới trong vật lý
    lý thuyết. Ý định của tôi là độc giả có thể đọc và nắm bắt nó
    mà không cần bất kỳ sự làm quen trước đó nào với vật lý hay
    vũ trụ học.
    Trong phần một của cuốn sách, tôi tập trung vào việc
    nghiên cứu vũ trụ, tổng kết các tiến bộ đã thực hiện trong giai
    đoạn đầu của vũ trụ học, mà đỉnh cao là một thuyết được gọi
    là “vũ trụ lạm phát”, là thuyết tới nay cung cấp cho chúng ta
    hiểu biết rõ ràng và tiên tiến nhất của thuyết vụ nổ lớn. Trong
    phần hai, tôi đặc biệt tập trung vào thuyết đa vũ trụ đang nổi
    lên, theo đó một thế giới được tạo thành từ nhiều vũ trụ, trong
    đó vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong số đó, và thảo luận về
    khả năng có những lỗ giun, các độ cong của không gian và
    thời gian, và các chiều bậc cao có thể kết nối chúng như thế
    nào, Thuyết siêu dây và thuyết M đã cho chúng ta những bước
    tiến quan trọng đầu tiên vượt xa thuyết ban đầu của Einstein;
    chúng đưa ra bằng chứng thêm nữa rằng vũ trụ của chúng ta

    có thể chỉ là một trong số rất nhiều vũ trụ. Cuối cùng, trong
    phần ba, tôi thảo luận về vụ đóng băng lớn và điều mà hiện
    nay các nhà khoa học coi như là sự kết thúc của vũ trụ của
    chúng ta. Tôi cũng đưa ra một thảo luận nghiêm túc, mặc dù
    chỉ có tính chất suy đoán, về việc một nền văn minh tiên tiến
    trong tương lai xa xăm có thể sử dụng các định luật vật lý để
    rời bỏ vũ trụ của chúng ta sau hàng nghìn tỉ năm nữa và tiến
    vào một vũ trụ khác, hiếu khách hơn để bắt đầu quá trình tái
    sinh, hoặc để đi ngược trở lại thời gian khi vũ trụ từng ấm áp
    hơn như thế nào.
    Với sự tràn ngập các dữ liệu mới mà chúng ta đang thu
    nhận ngày nay, với các công cụ mới như các vệ tinh không
    gian có thể quét qua bầu trời, các thiết bị dò sóng hấp dẫn mới
    và với các cỗ máy đập vỡ nguyên tử mới có kích thước cỡ một
    thành phố sắp sửa hoàn thành, các nhà vật lý cảm thấy rằng
    chúng ta đang tiến vào giai đoạn có thể coi là thời kỳ hoàng
    kim của vũ trụ học. Nói tóm lại, đó là thời gian tuyệt vời để
    vừa là một nhà vật lý vừa là một nhà du hành trong cuộc truy
    tìm này để hiểu rõ nguồn gốc của chúng ta và số phận của vũ
    trụ.

    PHẦN MỘT

    VŨ TRỤ

    CHƯƠNG MỘT

    NHỮNG BỨC ẢNH SƠ SINH CỦA VŨ TRỤ

    Nhà thơ chỉ cầu mong để đầu óc của mình bay bổng
    lên thiên đường. Nhà logic học lại tìm cách đem cả
    bầu trời vào trong đầu anh ta. Thế là đầu anh ta
    nhức như búa bổ.
    - G. K. Chesterson

    Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã tự xung đột với những niềm
    tin của chính mình. Cha mẹ tôi được nuôi dưỡng theo truyền
    thống Phật giáo. Nhưng tôi lại tới trường đạo Chúa nhật vào
    mỗi tuần, nơi tôi thích được nghe những câu chuyện Kinh
    Thánh về những con cá voi*, cái nôi cói của Moses, hộp đựng
    pháp điển, chiếc thuyền Noah*, các cột muối*, những rẻ
    xương sườn và những quả táo*. Tôi đã từng bị cuốn hút bởi
    những dụ ngôn này của kinh Cựu Ước, chúng từng là phần ưa
    thích của tôi tại trường đạo Chúa nhật. Dường như đối với tôi
    thì các dụ ngôn về các trận đại hồng thủy*, về các bụi gai
    cháy* và chuyện nước rẽ ra* có nhiều điều thú vị hơn so với
    việc tụng kinh và thiền định của Phật giáo. Quả thật, những
    câu chuyện cổ xưa về chủ nghĩa anh hùng và bi kịch này minh
    họa sinh động cho những bài học đạo đức và luân lý đã luôn ở
    bên tôi trong suốt cuộc đời.

    Một ngày ở trường đạo Chúa nhật, chúng tôi đã nghiên cứu
    sách Sáng thế. Đọc về việc Chúa Trời phán truyền như sấm từ
    trên thiên đường “Phải có ánh sáng!” nghe ấn tượng hơn nhiều
    so với việc yên lặng thiền định về Niết bàn. Vì hiếu kỳ ngây
    thơ, tôi đã hỏi cô giáo của mình rằng “Thế Chúa có mẹ không
    ạ?” Thường thì cô có câu trả lời nhanh chóng cũng như đưa ra
    một bài học sâu sắc về đạo đức. Nhưng lần này cô đã sửng sốt.
    Không, cô đã trả lời một cách lưỡng lự, Chúa chắc là không có
    mẹ. “Nhưng như thế thì Chúa ở đâu ra?” tôi hỏi. Cô ậm ừ rằng
    cô sẽ phải tham khảo ý kiến của vị mục sư về câu hỏi đó.
    Tôi đã không nhận ra rằng mình đã vô tình bập phải một
    trong những câu hỏi lớn của thần học. Tôi đã bối rối không
    hiểu vì trong Phật giáo chẳng hề có Chúa Trời, mà có một vũ
    trụ vô tận về thời gian, không có khởi đầu mà cũng chẳng có
    kết thúc. Sau này, khi tôi bắt đầu nghiên cứu các thần thoại lớn
    trên thế giới, tôi đã biết rằng có hai loại vũ trụ luận trong tôn
    giáo, loại thứ nhất dựa trên một thời điểm duy nhất khi Chúa
    tạo ra vũ trụ, loại thứ hai dựa trên ý tưởng cho rằng vũ trụ đã
    luôn luôn tồn tại và sẽ luôn luôn như vậy.
    Không thể có chuyện cả hai ý tưởng đều đúng, tôi đã nghĩ
    như vậy.
    Sau đó, tôi bắt đầu thấy rằng những chủ đề phổ biến này
    giao nhau trong nhiều nền văn hóa khác. Chẳng hạn, trong
    thần thoại Trung Hoa, thuở khai thiên lập địa chỉ có một quả
    trứng vũ trụ. Vị thần hài nhi Bàn Cổ cư trú gần như vĩnh viễn
    bên trong quả trứng này, khi nó trôi nổi trên biển Hỗn mang vô
    hình. Rốt cuộc khi trứng nở ra, Bàn Cổ đã lớn rất nhanh, cao
    thêm mỗi ngày một trường, vì thế nửa trên của vỏ quả trứng

    trở thành trời và nửa dưới trở thành đất. Sau 18.000 năm, thần
    qua đời để sinh ra thế giới của chúng ta: máu của thần đã trở
    thành những con sông, đôi mắt của thần là mặt trời và mặt
    trăng, còn giọng nói của thần đã trở thành sấm sét.
    Theo nhiều cách, thần thoại Bàn Cổ phản ánh một chủ đề
    được tìm thấy trong nhiều tôn giáo và thần thoại cổ xưa khác,
    rằng vũ trụ đã bắt đầu tồn tại từ trạng thái creatio ex nihilo
    (Sáng thế từ hư không). Trong thần thoại Hy Lạp, vũ trụ đã bắt
    đầu từ trạng thái hỗn độn (trên thực tế, từ “chaos” có nguồn
    gốc từ một từ trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “địa ngục”).
    Khoảng không trống rỗng vô hình này thường được miêu tả
    như là một đại dương, như trong thần thoại Babylon và Nhật
    Bản. Chủ đề này cũng được tìm thấy trong thần thoại Ai Cập
    cổ đại, nơi mà thần mặt trời Ra xuất hiện từ một quả trứng trôi
    nổi. Trong thần thoại Polynesia, quả trứng vũ trụ được thay thế
    bằng vỏ quả dừa. Người Maya tin vào một biến thể khác của
    câu chuyện này, trong đó vũ trụ được sinh ra rồi chết đi sau
    5.000 năm, chỉ cốt để tái sinh nhiều lần, lặp lại chu kỳ sinh
    diệt bất tận này.
    Các thần thoại creatio ex nihilo này đại diện cho sự tương
    phản rõ nét với vũ trụ học theo Phật giáo và các dạng thức
    nhất định của Ấn giáo (đạo Hindu). Trong thần thoại của các
    tôn giáo này, vũ trụ là vô thủy vô chung, không có khởi đầu
    mà cũng chẳng có kết thúc. Có nhiều cấp độ tồn tại, nhưng cao
    nhất là Niết bàn, một trạng thái vĩnh cửu và chỉ có thể đạt
    được bằng thiền định thanh khiết nhất. Trong Mahapurana
    (Đại Vãng thế thư) của người theo Ấn giáo, người ta viết rằng
    “Nếu Đấng Tạo hóa đã sáng tạo ra thế giới thì Ngài đã ở đâu

    trước Sáng thế?… Chỉ biết rằng thế giới này tự bản thân mà
    có, cũng như chính bản thân thời gian, không có khởi đầu mà
    cũng chẳng có kết thúc”.
    Các thần thoại này thể hiện sự mâu thuẫn rõ nét đối với
    nhau, mà rõ ràng không có giải pháp dung hòa giữa chúng.
    Chúng có tính loại trừ lẫn nhau: hoặc là vũ trụ đã có một khởi
    đầu hoặc là không có. Rõ ràng là không tồn tại quan điểm
    trung dung.
    Tuy nhiên, ngày nay một giải pháp dường như đang hiện
    lên từ một hướng hoàn toàn mới - thế giới khoa học - kết quả
    của một thế hệ mới các công cụ khoa học hùng mạnh vươn xa
    vào không gian. Nếu như thần thoại cổ đại dựa vào sự uyên
    thâm của những người kể chuyện để giải thích nguồn gốc thế
    giới của chúng ta, thì ngày nay, các nhà khoa học đang dựa
    vào hệ thống công cụ gồm các vệ tinh không gian, laser, các
    thiết bị dò sóng hấp dẫn, các thiết bị đo giao thoa, các siêu
    máy tính tốc độ cao và Internet, trong quá trình cách mạng hóa
    sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ, đem lại cho chúng ta miêu
    tả hấp dẫn nhất về sự sáng tạo ra nó.
    Điều đang dần dần hiện lên từ các dữ liệu này là sự tổng
    hợp lớn hai thần thoại đối lập. Có lẽ, như các nhà khoa học
    suy đoán, Sáng thế đã xảy ra nhiều lần trong đại dương vô
    thủy vô chung của Niết bàn. Trong bức tranh mới này, vũ trụ
    của chúng ta có thể được so sánh với một bong bóng nước
    đang trôi nổi trong một “đại dương” lớn hơn nhiều, với các
    bong bóng nước mới được hình thành liên tục. Theo học
    thuyết này, các vũ trụ, giống như các bọt nước hình thành
    trong nồi nước sôi, nằm trong chuỗi Sáng thế liên tục, đang

    trôi nổi trong một vũ đài lớn hơn nhiều, đó là Niết bàn của siêu
    không gian mười một chiều. Ngày càng có nhiều các nhà vật
    lý đề xuất rằng vũ trụ của chúng ta quả thật đã nảy sinh từ một
    đại biến cố dữ dội là vụ nổ lớn, nhưng nó cũng cùng tồn tại
    trong đại dương vĩnh hằng của các vũ trụ khác. Nếu chúng ta
    đúng, các vụ nổ lớn đang diễn ra ngay cả khi bạn đang đọc câu
    này.
    Các nhà vật lý và thiên văn học trên khắp thế giới hiện nay
    đang suy đoán về việc các thế giới song song này có thể giống
    như cái gì, những quy luật nào chúng có thể tuân theo, chúng
    được sinh ra như thế nào và cuối cùng chúng có thể chết đi
    như thế nào. Có lẽ các thế giới song song này cằn cỗi, không
    có các thành phần cơ bản của sự sống. Hoặc có lẽ chúng trông
    cũng giống như vũ trụ của chúng ta, bị chia tách bằng một sự
    kiện lượng tử duy nhất đã làm cho các vũ trụ này xa rời khỏi
    vũ trụ của chúng ta. Và một vài nhà vật lý đang suy đoán rằng
    có lẽ sẽ có một ngày, nếu sự sống không thể trụ được trong vũ
    trụ hiện nay của chúng ta khi nó già đi và trở nên lạnh lẽo, thì
    chúng ta có thể buộc phải rời khỏi nó và đào thoát vào một vũ
    trụ khác.
    Cơ chế dẫn dắt các học thuyết mới này là một lượng dữ
    liệu khổng lồ đang đổ về như thác từ các vệ tinh không gian
    của chúng ta khi chúng chụp ảnh các tàn tích của chính sự
    Sáng thế. Đáng chú ý là hiện nay các nhà khoa học đang tập
    trung chú ý vào những gì đã xảy ra chỉ 380.000 năm sau vụ nổ
    lớn, khi “ánh tàn dư” của Sáng thế bắt đầu lan tỏa khắp vũ trụ.
    Có lẽ bức tranh hấp dẫn nhất của bức xạ này từ Sáng thế đang
    đến từ một công cụ mới, được gọi là vệ tinh WMAP.

    VỆ TINH WMAP
    “Không thể tin được!” “Một mốc lịch sử!” nằm trong số
    những từ ngữ được các nhà vật lý thiên văn, thông thường vốn
    dè dặt, thốt lên trong tháng 2 năm 2003 khi họ miêu tả các dữ
    liệu quý giá thu được từ vệ tinh mới nhất của họ. WMAP (viết
    tắt trong tiếng Anh của Wilkinson microwave anisotropy
    probe, nghĩa là “tàu thăm dò dị hướng vi sóng Wilkinson”),
    đặt theo tên của nhà vũ trụ học tiên phong David Wilkinson và
    được phóng lên vào năm 2001, đã cung cấp cho các nhà khoa
    học, với độ chính xác chưa từng thấy, hình ảnh chi tiết của vũ
    trụ ban đầu khi nó chỉ mới 380.000 năm tuổi. Một nguồn năng
    lượng khổng lồ còn lại từ quả cầu lửa ban đầu, từng sinh ra các
    ngôi sao và các thiên hà, đã được luân chuyển trong khắp vũ
    trụ của chúng ta trong hàng tỉ năm. Ngày nay, nó đã bị vệ tinh
    WMAP chụp vào phim với chi tiết tinh tế, hình thành một bản
    đồ chưa bao giờ từng thấy trước đó, một bức ảnh của bầu trời
    với chi tiết ngoạn mục cho thấy bức xạ vi sóng được chính vụ
    nổ lớn tạo ra, điều từng được tạp chí Time gọi là “tiếng vọng
    của Sáng thế”. Sẽ không bao giờ các nhà thiên văn lại được
    ngắm nhìn bầu trời theo cùng một cách thế này một lần nữa.
    Các phát hiện của vệ tinh WMAP biểu tượng cho “một
    nghi lễ vượt qua* đối với vũ trụ học, từ suy đoán chuyển thành
    khoa học chính xác”[1], John Bahcall từ Viện Nghiên cứu cao
    cấp tại Princeton tuyên bố. Lần đầu tiên, các dữ liệu đồ sộ về
    giai đoạn đầu trong lịch sử của vũ trụ đã cho phép các nhà vũ
    trụ học trả lời chính xác những câu hỏi cổ xưa nhất trong số
    mọi câu hỏi, những câu hỏi đã từng làm nhân loại băn khoăn
    và thắc mắc kể từ lần đầu chúng ta ngắm nhìn vẻ đẹp thiên

    cảnh rõ ràng của bầu trời đêm. Vũ trụ bao nhiêu tuổi? Nó hợp
    thành từ cái gì? Số phận của vũ trụ như thế nào?
    (Năm 1992, một vệ tinh trước đó là COBE [viết tắt trong
    tiếng Anh của Cosmic Background Explorer satellite, nghĩa là
    “vệ tinh thăm dò nền vũ trụ”] đã cho chúng ta những hình ảnh
    mờ nhạt đầu tiên của bức xạ nền này đang lan tỏa khắp bầu
    trời*. Mặc dù kết quả này là mang tính đột phá, nhưng nó
    cũng đáng thất vọng bởi vì nó đã cho ra một hình ảnh không rõ
    nét của vũ trụ ban đầu. Thế nhưng điều này đã không ngăn cản
    được báo chí hào hứng phong cho bức ảnh này tên gọi “bộ mặt
    của Chúa”. Nhưng một miêu tả chính xác hơn về các hình ảnh
    mờ nhạt từ COBE sẽ là chúng thể hiện một “bức ảnh sơ sinh”
    của vũ trụ hồng hoang. Nếu vũ trụ ngày nay là một ông lão
    tám mươi tuổi, thì các bức ảnh của COBE, và sau đó là của
    WMAP, đã chỉ ra hình ảnh ông ta lúc sơ sinh, chỉ chưa đầy
    một ngày tuổi.)
    Lý do mà vệ tinh WMAP có thể cho chúng ta những hình
    ảnh chưa từng có của vũ trụ sơ sinh là ở chỗ bầu trời đêm cũng
    giống như một cỗ máy thời gian. Vì ánh sáng truyền đi với
    một tốc độ hữu hạn, nên các ngôi sao mà chúng ta nhìn thấy
    vào ban đêm là hình ảnh của chúng trước kia, chứ không phải
    bây giờ. Phải mất trên một giây để ánh sáng đi từ Mặt Trăng
    tới Trái Đất, do đó, khi chúng ta chiêm ngưỡng Mặt Trăng,
    chúng ta thực sự thấy nó trước đó một giây. Phải mất khoảng
    tám phút để ánh sáng đi từ Mặt Trời đến Trái Đất. Tương tự
    như vậy, nhiều ngôi sao quen thuộc, mà chúng ta nhìn thấy
    trên bầu trời xa xôi tới mức phải mất từ 10 tới 100 năm để ánh
    sáng của chúng truyền tới mắt chúng ta. (Nói cách khác, chúng

    nằm cách Trái Đất từ 10 tới 100 năm ánh sáng. Một năm ánh
    sáng là khoảng 6.000 tỉ dặm Anh*, hoặc khoảng cách mà ánh
    sáng di chuyển trong một năm). Ánh sáng từ các thiên hà xa
    xăm có thể cách xa ta hàng trăm triệu tới hàng tỉ năm ánh
    sáng. Kết quả là chúng thể hiện một thứ ánh sáng “hóa thạch”,
    mà một số được phát ra thậm chí còn trước cả thời những con
    khủng long tung hoành. Một số thiên thể xa nhất mà chúng ta
    thấy được qua kính viễn vọng của mình được gọi là các chuẩn
    tinh (quasar), những cỗ máy thiên hà khổng lồ phát sinh một
    lượng năng lượng không thể tin được gần rìa của vũ trụ nhìn
    thấy được, có thể nằm cách Trái Đất từ 12 tới 13 tỉ năm ánh
    sáng. Và bây giờ, vệ tinh WMAP đã phát hiện được bức xạ
    khởi phát ra thậm chí còn trước cả khi đó, từ quả cầu lửa ban
    đầu đã tạo ra vũ trụ.
    Để miêu tả vũ trụ, các nhà vũ trụ học đôi khi sử dụng ví dụ
    về việc nhìn xuống từ trên đỉnh của tòa nhà Empire State*, cao
    chót vót trên 100 tầng tại khu Manhattan. Khi nhìn từ trên đỉnh
    tòa nhà xuống, bạn khó nhìn thấy mặt đường phố. Nếu chân đế
    của tòa nhà Empire State tượng trưng cho vụ nổ lớn, và nếu
    nhìn từ trên đỉnh xuống, thì các thiên hà xa xăm sẽ nằm trên
    tầng mười. Các chuẩn tinh xa xăm được các nhìn thấy qua
    kính viễn vọng trên Trái Đất sẽ nằm trên tầng bảy. Nền vũ trụ
    được đo bằng vệ tinh WMAP đã cho chúng ta phép đo lường
    chính xác tuổi của vũ trụ với độ chính xác đáng kinh ngạc, sai
    lệch chỉ 1%: 13,7 tỉ năm.
    Sứ mệnh của WMAP là đỉnh cao của trên một thập kỷ làm
    việc cật lực của các nhà vật lý thiên văn. Khái niệm về vệ tinh
    WMAP được đề xuất lần đầu với NASA vào năm 1995 và đã

    được chấp thuận hai năm sau đó. Vào ngày 30 tháng 6 năm
    2001, NASA đã phóng vệ tinh WMAP trên tên lửa Delta II
    vào một quỹ đạo quanh Mặt Trời nằm giữa Trái Đất và Mặt
    Trời. Điểm đến được chọn lựa cẩn thận là điểm Lagrange 2
    (tức L2, một điểm đặc biệt có sự ổn định tương đối gần Trái
    Đất)*. Từ điểm thuận lợi này, vệ tinh luôn luôn được tránh
    hướng về phía Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng, do đó có một
    tầm quan sát vũ trụ không bị trở ngại. Cứ sáu tháng một lần nó
    lại quét được đầy đủ toàn bộ bầu trời.
    Nó có một hệ thống thiết bị đo đạc tối tân. Với các cảm
    biến mạnh, nó có thể phát hiện bức xạ vi sóng yếu ớt còn sót
    lại từ vụ nổ lớn tràn ngập vũ trụ, hầu như vẫn bị bầu khí quyển
    của chúng ta hấp thụ. Vệ tinh composit nhôm này có kích
    thước 3,8 mét nhân 5 mét và nặng 840 kg. Nó có hai kính viễn
    vọng giáp lưng, thu bức xạ vi sóng từ bầu trời xung quanh, và
    cuối cùng truyền dữ liệu về Trái Đất bằng sóng vô tuyến. Nó
    được nuôi bằng nguồn 419 Watts điện (công suất của năm
    bóng đèn thông thường). Cách Trái Đất khoảng 1,5 triệu
    kilômét, vệ tinh WMAP cũng nằm ngoài các nhiễu loạn của
    khí quyển Trái Đất là những thứ có thể át nền vi sóng yếu ớt,
    và nó có thể nhận được các số đo liên tục của toàn bộ bầu trời.
    Vệ tinh này hoàn thành việc quan sát toàn bộ bầu trời lần
    đầu tiên trong tháng 4 năm 2002. Sáu tháng sau, việc quan sát
    toàn bộ bầu trời lần thứ hai đã được thực hiện. Hiện nay, vệ
    tinh WMAP đã cho chúng ta bản đồ chi tiết và toàn diện nhất
    từ trước tới nay về bức xạ này. Sự tồn tại của bức xạ nền vi
    sóng do WMAP ghi lại đã được George Gamow và nhóm của
    ông tiên đoán lần đầu tiên vào năm 1948. Ông cũng là người

    đã lưu ý rằng bức xạ này có một nhiệt độ gắn liền với nó.
    WMAP đã đo nhiệt độ này và cho thấy nó chỉ cao hơn độ
    không tuyệt đối một chút, tức là từ 2,7249 tới 2,7251 độ
    Kelvin.

    Đây là “bức ảnh sơ sinh” của vũ trụ, khi nó mới chỉ 380.000 năm tuổi, do vệ
    tinh WMAP chụp. Mỗi chấm hầu như tương ứng với một thăng giáng lượng
    tử nhỏ nhoi trong ánh tàn dư muộn của Sáng thế đã dãn nở để tạo ra các thiên
    hà và các quần thiên hà mà chúng ta thấy ngày nay.

    Đối với người “ngoại đạo”, bản đồ bầu trời của WMAP
    trông chẳng mấy thú vị, nó chỉ là một bộ sưu tập các chấm
    ngẫu nhiên. Tuy nhiên, bộ sưu tập các chấm này đã khiến cho
    một số nhà thiên văn gần như phải rơi nước mắt, vì chúng thể
    hiện các thăng giáng hay các bất thường trong cuộc đại biến
    động dữ dội ban đầu của vụ nổ lớn ngay sau khi vũ trụ được
    tạo ra. Các thăng giáng nhỏ nhoi này giống như các “hạt
    giống” để từ đó đã dãn nở ra rất nhiều khi bản thân vũ trụ đã
    nổ tung ra tứ phía. Ngày nay, các hạt giống nhỏ này đã trổ hoa
    thành các quần thiên hà (đám thiên hà) và các thiên hà chiếu
    sáng bầu trời mà chúng ta thấy. Nói cách khác, Ngân Hà của
    chúng ta và tất cả các quần thiên hà chúng ta nhìn thấy xung

    quanh mình đã từng một thời là một trong các thăng giáng nhỏ
    này. Bằng cách đo đạc sự phân bố của các thăng giáng này,
    chúng ta nhìn thấy nguồn gốc của các quần thiên hà, giống
    như các chấm vẽ trên tấm thảm vũ trụ treo trên bầu trời đêm,
    Ngày nay, khối lượng các dữ liệu thiên văn đang vượt các
    thuyết của các nhà khoa học. Trên thực tế, tôi có thể lập luận
    rằng chúng ta đang bước vào một thời kỳ hoàng kim của vũ trụ
    học. (Cho dù vệ tinh WMAP có ấn tượng như thế nào thì rất
    có thể nó sẽ bị vệ tinh Planck, mà người châu Âu dự tính
    phóng lên vào năm 2007*, làm nhỏ bé lại; Planck sẽ cung cấp
    cho các nhà thiên văn các bức ảnh thậm chí còn chi tiết hơn về
    bức xạ nền vi sóng). Vũ trụ học ngày nay cuối cùng đã tới tuổi
    trưởng thành, đang nổi lên từ những cái bóng của khoa học sau
    khi đã tàn tạ nhiều năm trong một bãi lầy của suy đoán tự biện
    và phỏng đoán lung tung. Về mặt lịch sử, các nhà vũ trụ học
    đã phải chịu điều tiếng khá khó chịu. Niềm đam mê mà cùng
    với nó họ đã đề xuất các học thuyết lớn của vũ trụ lại chỉ kết
    hợp với sự nghèo nàn đến cùng cực của các dữ liệu của họ.
    Như Lev Landau, một người đoạt giải Nobel, từng hài hước:
    “các nhà vũ trụ học thường phạm sai lầm, nhưng không bao
    giờ bị nghi ngờ”. Các khoa học có một châm ngôn cũ: “Đầu
    tiên là suy đoán, rồi suy đoán nhiều hơn nữa, thế là chúng ta
    có vũ trụ học”.
    Cuối thập niên 1960, khi theo học chuyên ngành Vật lý tại
    Harvard, trong một thời gian ngắn tôi đã thử “nghịch ngợm”
    với khả năng nghiên cứu vũ trụ học. Từ nhỏ tôi đã luôn có
    niềm đam mê với nguồn gốc của vũ trụ. Tuy nhiên, chỉ thoáng
    nhìn vào lĩnh vực này đã cho thấy nó từng sơ khai một cách

    đáng xấu hổ. Nó đã không hề là một khoa học thực nghiệm,
    nơi người ta có thể thử nghiệm các giả thuyết với các công cụ
    chính xác, mà là một tập hợp các học thuyết lỏng lẻo mang
    tính suy đoán cao. Các nhà vũ trụ học không ngừng tranh luận
    nảy lửa về việc liệu vũ trụ có được sinh ra trong một vụ nổ vũ
    trụ hay nó đã luôn luôn tồn tại trong trạng thái tĩnh định.
    Nhưng với các dữ liệu quá ít ỏi, các lý thuyết nhanh chóng
    vượt xa các dữ liệu. Trên thực tế, càng ít dữ liệu thì các cuộc
    tranh luận lại càng dữ dội.
    Xuyên suốt lịch sử của vũ trụ học, sự khan hiếm dữ liệu
    đáng tin cậy cũng đã dẫn tới những mâu thuẫn gay gắt giữa
    các nhà thiên văn trong nhiều thập niên. (Chẳng hạn, ngay
    trước khi nhà thiên văn Allan Sandage của Đài quan sát núi
    Wilson được đề nghị diễn thuyết về tuổi vũ trụ, diễn giả trước
    đó đã thông báo một cách châm biếm rằng: “Những gì bạn sẽ
    nghe sau đây là sai bét”.[2] Và Sandage, khi nghe thấy nhóm
    đối thủ đã gây ra sự ầm ĩ như thế, chỉ có thể gầm lên: “Đó là
    một mớ những lời tầm bậy. Đó là chiến tranh - đúng là chiến
    tranh!”).[3]
    TUỔI CỦA VŨ TRỤ
    Các nhà thiên văn luôn tha thiết muốn biết tuổi của vũ trụ.
    Trong nhiều thế kỷ, các học giả, tu sĩ và các nhà thần học đã
    cố gắng ước tính tuổi của vũ trụ, bằng cách sử dụng phương
    pháp duy nhất mà họ có trong tay: phả hệ của nhân loại kể từ
    thời ông Adam và bà Eva. Trong thế kỷ vừa qua, các nhà địa
    chất đã đo các bức xạ tàn dư trong các loại đá để đưa ra ước
    tính tốt nhất về tuổi Trái Đất. Trong khi đó, vệ tinh WMAP
    ngày nay đã đo được tiếng vọng của chính vụ nổ lớn để cung

    cấp cho chúng ta tuổi có căn cứ đích xác nhất của vũ trụ. Các
    dữ liệu WMAP tiết lộ rằng vũ trụ đã sinh ra trong một vụ nổ
    dữ dội diễn ra 13,7 tỉ năm trước.
    (Trong nhiều năm, một trong những điều làm các nhà vũ
    trụ học vô cùng bối rối là tuổi của vũ trụ được tính toán lại trẻ
    hơn so với tuổi của các hành tinh và các ngôi sao, vì dữ liệu
    sai. Các ước tính trước đây về tuổi của vũ trụ tùng thấp tới
    mức là chỉ từ 1 đến 2 tỉ năm, mâu thuẫn với tuổi Trái Đất [4,5
    tỉ năm] và tuổi của những ngôi sao già nhất [12 tỉ năm].
    Những mâu thuẫn này hiện nay đã được loại bỏ.)
    WMAP đã đem lại một bước ngoặt bất ngờ và kỳ lạ cho
    cuộc tranh luận về việc vũ trụ được hình thành từ cái gì, một
    câu hỏi mà những người Hy Lạp đã đặt ra hơn 2.000 năm
    trước đây. Trong thế kỷ vừa qua, các nhà khoa học tin rằng họ
    đã biết câu trả lời cho câu hỏi này. Sau hàng nghìn thí nghiệm
    chi li, các nhà khoa học đã kết luận rằng vũ trụ về cơ bản được
    hình thành từ khoảng 100 loại nguyên tử khác nhau, sắp xếp
    trong một bảng tuần hoàn có trật tự, bắt đầu với nguyên tố
    hyđrô. Điều này thiết lập cơ sở của hóa học hiện đại và trên
    thực tế đã được giảng dạy trong mọi tiết khoa học tại trường
    trung học. Hiện nay, WMAP lại đánh đổ niềm tin đó.
    Khi xác nhận các thí nghiệm trước, vệ tinh WMAP đã chỉ
    ra rằng vật chất có thể thấy được mà chúng ta nhìn thấy xung
    quanh chúng ta (bao gồm núi non, các hành tinh, các vì sao và
    các thiên hà...
     
    Gửi ý kiến

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc. (Gunter Grass)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT VIỆT ĐỨC - ĐAK LAK !